Japanese Film Festival 2016


jff-2016

Năm 2016 là năm đầu tiên chương trình LHP Nhật Bản tổ chức bán vé ở Sài Gòn và Hà Nội, tôi hài lòng vì điều này. Tại sao? Việc bán vé giúp tôi không phải đứng xếp hàng mệt mỏi ngay ngày đầu tiên tổ chức bán vé; do đó, tôi có thể mua vé xem hết tất cả 8 bộ phim được trình chiếu với chỗ ngồi đẹp (ở những năm trước, việc xem hết tất cả các phim được trình chiếu vốn là điều bất khả). Hơn nữa, giá vé 30k theo tôi là rất hữu nghị và hợp lí. Tôi không có gì phàn nàn về điều này. Đó là ý kiến tôi đã ghi trong tờ khảo sát của mỗi buổi chiếu phim ở mục câu hỏi: “Bạn nghĩ gì về việc tổ chức bán vé năm nay?” Thế nhưng, hầu như buổi chiếu phim nào, mỗi lần điền tờ khảo sát, tôi cũng nghe vài lời phàn nàn của các bạn trẻ gần đó, những câu đại loại như: “Tao thích chương trình phát vé miễn phí mỗi năm hơn, tự nhiên năm nay bán vé bực muốn chết.” “Năm nay bán vé thì nó chiếu nhiều phim mới hơn, hầu hết là những phim năm 2016. Mấy năm trước nó không bán vé nên toàn chiếu phim cũ cách đó hai, ba năm. Nhưng tao đâu cần coi phim mới. Phim Nhật hay mà. Coi phim cũ một chút cũng được, không sao hết, chẳng có sự khác biệt nào giữa cũ và mới. Phim Nhật chứ có phải phim Hollywood đâu mà cần xem phim mới cho nóng hổi. Bởi vậy, tao không thích việc bán vé này chút nào. Cứ chiếu phim cũ rồi phát vé miễn phí có phải hơn không?”… Có những cặp bạn trẻ nói huyên thuyên về việc này rất lâu. Cả 8 phim tôi đều đi xem một mình, thực lòng mà nói, tôi rất bực bội khi ngồi nghe cùng một kiểu ý kiến thế này suốt các buổi chiếu. Hầu như, tôi không nghe được ý kiến nào ủng hộ việc bán vé giống như dòng suy nghĩ đang thầm cất tiếng trong đầu tôi.

Tôi bắt đầu xem phim ở LHP Nhật từ năm 2010, đến nay đã được bảy kì LHP trôi qua. Trong bảy kì này thì chỉ có năm nay là tôi được xem hết tất cả các phim trình chiếu, còn những kì trước đây, hầu như lúc nào tôi cũng phải bỏ lại một vài phim do không lấy được vé hoặc rạp đã hết chỗ ngồi, hoặc có năm vì không lấy được vé nên đành chấp nhận vào xem phim trễ khoảng 15-20 phút (qui định của BTC đối với người không có vé). Tôi vẫn còn nhớ cảm giác mệt mỏi khi đứng xếp hàng hơn một tiếng đồng hồ để chờ xem phim vào năm 2011, đó là năm mệt mỏi nhất đến nỗi có những bạn phải ngồi bệt xuống đất để chờ. Tôi cũng vẫn nhớ cảm giác chen lấn để giành được chỗ ngồi đẹp vào năm 2012 (đây là năm BTC không phát vé, cho phép người xem vào cửa tự do; vì vậy, nếu muốn giành chỗ đẹp, bạn phải đến sớm trước suất chiếu ít nhất là 30 phút để xếp hàng). Và tôi vẫn nhớ rõ như in cảm giác tuyệt vọng khi nhìn biển người đông nghẹt đến nỗi dù mọi người đã có ý thức xếp hàng nhưng tôi vẫn không thấy được hàng lối vào năm 2013 khi việc phát vé, xem phim được tổ chức ở BHD Bitexco. Đó là năm tôi đã không lấy được vé nào, cũng không xem được phim nào dù ngày phát vé, tôi đến đúng giờ nhưng có nhiều bạn trẻ đã đến từ sớm, đứng đợi trước đó khoảng một, hai tiếng (quá kinh khủng). Năm 2014, LHP vẫn được tổ chức ở BHD Bitexco. Nhớ đến cảnh tượng hãi hùng năm 2013, tôi không xếp hàng lấy vé nữa. Tưởng chừng, sẽ không xem được phim nào nhưng cuối cùng, hóa ra năm 2014 lại là năm tôi xem được nhiều phim nhất trong các kì LHP Nhật phát vé miễn phí: tổng cộng là 11 phim. Năm đó, một người bạn rất tốt của tôi đã cho tôi hai vé xem phim Key of Life. Đáng tiếc là vào buổi chiếu phim, bạn lại bận nên không cùng tôi đi xem được. Lúc đó, tôi đã nhường một vé cho một bạn không có vé. Thật may mắn là vào buổi chiếu Key of Life, tôi đã tình cờ làm quen được chị Như trong BTC của Lãnh sự quán Nhật (thời gian đã qua lâu rồi, có lẽ bây giờ chị không còn nhớ tôi nữa). Chị là một người vô cùng lịch thiệp, tử tế và dịu dàng. Khi nghe tôi trình bày tình yêu của mình dành cho phim Nhật, văn hóa Nhật, chị đã tặng tôi ba vé xem phim còn sót lại mà chị đang giữ: A letter to Momo, Tamako Love Story, Silver Spoon. Nhờ có ba vé này, tôi đã xem thêm được một số phim khác nữa trong cùng ngày chiếu với các phim đó. Cuối cùng, tổng cộng tôi xem được 11 phim trong số 14 phim (tôi chỉ bỏ lỡ ba phim là The Great Passage – phim này sau đó tôi đã xem bổ sung trên mạng, Dear Doctor, Patema Inverted). Tôi vô cùng biết ơn chị Như cũng như Lãnh sự quán Nhật năm đó đã tạo điều kiện để một người hoàn toàn không có tấm vé nào như tôi có thể xem được 11 phim rất tuyệt vời như vậy. Khi đó, tôi vô cùng muốn viết lại bài review hoặc cảm nhận ngắn gọn cho từng phim tôi xem để đăng trên Facebook – phần nào đó, xem như là cách trả ơn của tôi dù có lẽ nó cũng không hiệu quả lắm, nhưng đó là việc duy nhất tôi có thể làm. Tuy nhiên, cuối năm 2014 là thời điểm tôi rất bận rộn với công việc, lúc đó tôi cũng đang bắt đầu học tiếng Hàn (thật buồn vì bây giờ tôi đã quên rất nhiều kiến thức về tiếng Hàn được học trong thời gian đó) nên không có thời gian viết review cho bất cứ phim nào, chỉ là vài dòng preview ngắn gọn. Vào năm 2015, rút kinh nghiệm năm 2013 và 2014, tôi xin nghỉ phép một buổi sáng ở công ty để lấy vé (vô cùng biết ơn sếp vì đã cho phép tôi làm điều này). Hôm ấy, tôi đến sớm hơn giờ phát vé một tiếng; vì lẽ đó, tôi đã có thể đứng xếp hàng lấy vé được hai vòng – nhờ vậy mà tôi xem được gần hết các vé chiếu năm 2015 (một số phim tôi không xem không phải do không lấy vé được mà vì trùng với lịch học; sau đó, để xem đủ hết các phim trình chiếu, tôi đã xem bổ sung trên mạng phim Jinx, It all began when I met you).

Tôi kể ra những kinh nghiệm trong suốt bảy năm theo dõi LHP Nhật để các bạn thấy rằng việc phát vé miễn phí rồi đứng xếp hàng chờ đợi không phải là điều dễ dàng với tôi – một người đã đi làm nhưng vẫn thích xem phim Nhật trong những dịp hiếm hoi phim được trình chiếu ngoài rạp với chất lượng tốt. Việc xếp hàng lấy vé vừa mất thời gian, vừa mệt mỏi, không đảm bảo được sẽ có thể xem hết cả các phim; hơn nữa, khi lấy được vé rồi cũng phải đến suất chiếu thật sớm để giành chỗ đẹp vì trong vé không ghi ghế ngồi. Trong khi đó, chỉ bằng việc bán vé dù là với giá rẻ như thế nhưng các khó khăn trên đã bị loại bỏ đi. Tôi rất ngạc nhiên khi ngày đầu tiên mua vé xem phim, rạp Đống Đa vắng teo, không đông đúc như các ngày đầu phát vé những năm trước (thật may mắn). Tôi nghĩ rằng giá vé 30k cũng không phải là mắc với một sinh viên, nó chỉ bằng một bữa ăn. Nếu như tôi quay lại thời sinh viên không có nhiều tiền, tôi vẫn chấp nhận việc mua vé này, tôi có thể nhịn ăn sáng hoặc ăn các món rẻ tiền như bánh mì, bánh tráng trộn để dành tiền mua vé xem phim – đó không phải là việc quá khó khăn. Xét trong tình hình giá vé xem phim hiện nay ở Sài Gòn, 30k là rất rẻ vì với tấm thẻ sinh viên hoặc CMND là công dân dưới 22 tuổi, các bạn trẻ có thể mua vé xem phim mới với giá khoảng 50k ở tất cả các rạp và khoảng 40-45k đối với một số rạp như Galaxy, BHD (vào ngày tri ân/ Culture day) hay Cinestar. Nhưng ít khi nào giá vé xem phim tụt xuống 30k ngoại trừ một số dịp các rạp như CGV, Lotte chiếu lại những phim cũ đã phát hành trước đó vài tháng, có khi gần nửa năm (như đợt cuối tháng 10 vừa rồi CGV có chiếu chùm phim kinh dị giá 30k, trong đó có phim Before I Wake đã chiếu ở rạp từ ngày 8.4). Vậy thì, giá vé 30k để xem những phim Nhật trình chiếu trong năm 2016 theo tôi là quá hợp lí. Các bạn trẻ ngày nay không tiếc tiền ra rạp xem phim Hollywood với giá vé ít khi nào là 30k, các bạn nói yêu phim Nhật vậy mà lại tiếc bỏ ra 30k để đổi lại rất nhiều lợi ích hơn so với việc đứng xếp hàng nhận vé miễn phí. Đó là lí do khiến tôi hơi bực bội khi nghe lời cằn nhằn của các bạn trong những buổi chiếu phim. Có lẽ, vẫn còn những bạn trẻ đồng suy nghĩ với tôi về việc mua vé nhưng tôi không có cơ hội ngồi cạnh họ trong LHP năm nay.

Với những kỉ niệm đẹp vào LHP năm 2014, tôi luôn cảm thấy mình nợ chương trình điều tôi có thể làm nhưng đã không làm. Do đó, năm nay là một dịp vừa tốt để tôi có thể thực hiện việc trả ơn cho nghĩa cử năm đó của BTC: tôi mua hết vé xem phim cho các phim trình chiếu dù một số phim đã có bản HD trên mạng (The Boy and the Beast, The Anthem of the Heart, Chihayafuru part I & II), xem phim nào xong tôi cũng viết review – không phải là một bài dài nhưng cũng đỡ hơn vài dòng ngắn gọn năm 2014.

Từ khi học tiếng Nhật, cách thức xem phim Nhật của tôi cũng thay đổi. Tôi không thưởng thức phim Nhật giống như một phim bình thường, giống như khi xem phim của các nước khác. Có thể nói, tôi không để ý nhiều lắm khía cạnh điện ảnh hay các thủ pháp nghệ thuật khi xem phim Nhật vì tôi xem phim Nhật như một cách để luyện nghe tiếng Nhật, đầu óc tôi đã bị phân tâm khá nhiều khi cố gắng lặp lại lời các nhân vật đang nói trên màn hình trong đầu, tôi cố gắng thử xem nếu như không có phụ đề thì mình hiểu được phim khoảng bao nhiêu % (thực lòng tôi rất muốn dịch một số phim Nhật chỉ có bản RAW, không có cả phụ đề tiếng Nhật trên mạng; vậy nên, tôi đã luôn thực hành việc tập nghe này khi xem những phim Nhật có phụ đề trong khoảng ba năm gần đây). Do đó, những bài review ngắn gọn về 8 phim trình chiếu năm nay mà tôi viết bên dưới hầu như không đề cập đến khía cạnh nghệ thuật mà chỉ tập trung vào phần nội dung và như thường lệ, tôi spoil khá nhiều. Dù sao, LHP năm nay cũng để lại những kỉ niệm đẹp trong tôi vì các phim trình chiếu đều rất hay. Tôi trân trọng những cảm xúc mà các bộ phim đã mang đến cho tôi. Hi vọng, năm sau tôi vẫn có thể xem phim như vậy.

Chihayafuru Part I

maxresdefault

Là một người chưa đọc trước bộ manga Chihayafuru của tác giả Suetsugu Yuki, khi xem Chihayafuru phần I của đạo diễn Koizumi Norihiro, tôi đã hoàn toàn đắm chìm vào những cung bậc cảm xúc khác nhau của phim. Chihayafuru giúp tôi biết đến một nét văn hóa của Nhật Bản mà trước đây tôi hoàn toàn không có chút ý niệm: trò chơi karuta. Thế mạnh của phim Nhật nói chung luôn là việc khắc họa sâu sắc niềm đam mê một điều gì đó, tình yêu gắn liền với lí tưởng, tinh thần đồng đội… Những ưu điểm đó vẫn được thể hiện thành công trong Chihayafuru. Nội dung kịch bản có cách giới thiệu về karuta rất hay trong việc dẫn dắt người xem đi từ cái nhìn của những người bên ngoài đến cái nhìn của những người thực sự yêu karuta, từ sự khám phá cái lạ lẫm lúc ban đầu đến sự hòa điệu trong từng giây phút thưởng thức trò chơi. Phim sử dụng rất nhiều slow motion: bên cạnh những đoạn slow motion để diễn tả các khoảnh khắc cảm xúc lắng đọng, bộ phim còn dùng slow motion như một phương thức gây cười (cảnh Chihaya khóc và ôm Taichi khi anh đem về chiến thắng cho đội).

Tôi đã từng yêu mến phim Taiyou no uta (2006) của đạo diễn Koizumi Norihiro nên khi xem Chihayafuru phần I, tôi không khỏi bất ngờ trước sự thay đổi rõ rệt về mặt không khí phim. Taiyou no uta có mạch phim rất chậm, nhẹ nhàng, trầm buồn trong khi Chihayafuru thì lại có mạch phim khá nhanh, dồn dập nhiều tình tiết, hài hước. Hai bộ phim này cách nhau vừa khéo đúng 10 năm. Taiyou no uta là phim đầu tay của Koizumi và Chihayafuru lại là phim mới nhất của anh. Rõ ràng, qua 10 năm, anh đã có sự tiến bộ rất lớn vì xét về mặt cấu trúc thì Chihayafuru chặt chẽ hơn hẳn Taiyou no uta.

Chihayafuru cũng là một phim giới thiệu đến tôi nhiều gương mặt mới của thế hệ diễn viên trẻ ở Nhật ngày nay: Hirose Suzu, Nomura Shuhei, Mackenyu, Kamishiraishi Mone, Shimizu Hiroya, Morinaga Yuki… Đây là lần đầu tiên tôi xem phim họ đóng, việc này khiến tôi có cảm giác hoàn toàn tươi mới khi xem. Hirose Suzu phần nào đó khiến tôi nhớ đến Nagasawa Masami, Nomura Shuhei khiến tôi nhớ đến Miura Haruma, Mackenyu khiến tôi nhớ đến Sometani Shota… Họ đều là những gương mặt kế thừa sáng giá của lớp diễn viên đi trước.

Điểm đánh giá: 8/10

Chihayafuru Part II

image3_01

Tiếp nối phần một, Chihayafuru phần II đẩy mạnh hơn kịch tính và mâu thuẫn nhưng không phải là trong các trận đấu karuta, mà là trong chính nội tâm của nhân vật. Nếu như phần một giới thiệu đến người xem tính cách nhân vật, trò chơi karuta, niềm đam mê dành cho karuta dưới những cách thể hiện khác nhau thì ở phần hai, các nhân vật tự vấn mình những câu hỏi cơ bản nhất: tại sao lại chơi karuta, họ mong đạt được điều gì khi chơi karuta, phải lựa chọn thế nào giữa lợi ích cá nhân và lợi ích đồng đội, sự kết nối nằm ở đâu… Phần II giới thiệu đến khán giả một nhân vật mới không kém thú vị các nhân vật đã xuất hiện ở phần I: Nữ hoàng karuta Wakamiya Shinobu. Tôi rất thích nhân vật này dưới diễn xuất của diễn viên Matsuoka Mayu. Sau khi xem Chihayafuru phần II, tôi tự nhủ rằng nếu như có thời gian, tôi sẽ tìm xem một số phim của Mayu.

Điểm đánh giá: 8/10

What a Wonderful Family!

adb11a9002be7506a97f9b94fd715972

What a Wonderful Family! là một phim có tên tiếng Anh và tên gốc tiếng Nhật đối nghịch hẳn nhau. Tên gốc của phim là家族はつらいよ (tạm dịch: Gia đình thật vất vả!). Tuy nhiên, “vất vả” ở đây là nghĩa hiểu trong ngoặc kép, “vất vả” nhưng vui. Tên phim tiếng Nhật cho tôi hình dung đó là câu nói than thở hóm hỉnh của ông Hirata Shuzo. Vì vậy, với tôi, tên tiếng Nhật của phim thú vị hơn hẳn tên tiếng Anh. Tên tiếng Nhật hàm chứa cả hai lớp nghĩa đen và nghĩa bóng, cả hai mặt vấn đề giữa một bên là thực tế (gia đình Hirata quả nhiên có những vấn đề phiền toái thật) và một bên là cốt lõi bên trong (nhưng gia đình Hirata vẫn tuyệt vời vì họ luôn yêu thương nhau). Tuy vậy, tên tiếng Anh lại lấy ngay lớp cốt lõi được cất giấu bên trong để làm tiêu đề mà bỏ đi lớp vỏ bao phủ bên ngoài. Tôi nghĩ điều này có chút gì đó không hay, tựa như một người ăn chôm chôm hay vải, hay nhãn, hay bất cứ loại trái cây nào có vỏ bên ngoài mà để ăn được, ta phải lột vỏ ra; nhưng ở đây, lớp vỏ đã được lột sẵn, ta thấy ngay tinh chất bên trong. Lẽ dĩ nhiên, ta vẫn có thể thưởng thức trọn vẹn vị ngon trái cây nhưng việc mất đi công đoạn tự lột vỏ, việc mọi thứ được bày sẵn khiến cho quá trình thưởng thức trở nên kém thú vị một chút. Tôi không hiểu vì sao nhà sản xuất lại đổi tên tiếng Anh của phim theo nghĩa khác tên gốc như vậy. Với tôi, nếu như tên phim tiếng Anh là It’s tough being a family cũng sẽ khá thú vị.

Tuy What a Wonderful Family! là phim điện ảnh nhưng phim lại có chất truyền hình thể hiện khá rõ ở việc dễ dàng làm tiếp phần sau. Và quả nhiên, phim sẽ ra mắt phần hai vào mùa hè năm 2017. Tôi cũng nghĩ rằng nếu như đạo diễn Yamada Yoji quá yêu mến gia đình Hirata, ông hoàn toàn có thể tiếp tục làm thêm nhiều phần nữa cho phim. Bởi vì, What a Wonderful Family! không hẳn trình diễn câu chuyện, chính xác hơn, nó trình diễn cuộc sống, một cuộc sống vẫn cứ tiếp tục chảy trôi và sẽ luôn chảy trôi như những dòng sông không có điểm bắt đầu, không có điểm kết thúc, hoặc có thể nói, điểm kết thúc cũng là điểm bắt đầu, điểm bắt đầu cũng là điểm kết thúc.

What a Wonderful Family! bắt đầu với tình tiết bà Tomiko sau nhiều năm tận tụy chăm sóc chồng, một ngày đột nhiên tuyên bố rằng bà muốn li hôn. Cả gia đình Hirata bị chấn động bởi tin này và từ đây câu chuyện chính bắt đầu. Với tiêu đề phim như thế, rõ ràng không khó để đoán ra kết quả cuối cùng của quyết định đó. Ở đây, kết quả không còn quan trọng nữa mà quá trình tiến đến kết quả như thế nào mới là thứ quan trọng. Tuy nhiên, trong lúc theo dõi bộ phim, tôi nhận thấy kể cả quá trình cũng không phải là thứ quan trọng, trong What a Wonderful Family! thứ quan trọng nhất có lẽ là các nhân vật, tính cách riêng của từng nhân vật tác động và ảnh hưởng đến nhau – từ đó, họ cùng dẫn bộ phim đi về kết thúc của nó. Nghĩa là, Yamada Yoji và Hiramatsu Emiko đã rất thành công trong công tác biên kịch khi xây dựng được nét đặc trưng rõ rệt cho từng nhân vật, tạo ra bầu không khí riêng không thể nhầm lẫn được mỗi khi một nhân vật nào đó xuất hiện. Từ đó, việc giải quyết vấn đề chính trở thành thứ yếu và tôi thích thú khi theo dõi sự tương tác giữa các thành viên trong gia đình.

Tất cả các diễn viên trong phim đều diễn tròn vai và có sự dễ thương riêng. Tuy vậy, tôi đặc biệt thích sự xuất hiện của Tsumabuki Satoshi và Aoi Yu trong phim. Họ cùng nhau tạo thành một cặp đôi rất dễ thương với các nét bẽn lẽn, duyên dáng ngầm. Shota (Tsumabuki Satoshi) là người hòa giải trong gia đình và có lẽ Noriko (Aoi Yu) rồi sẽ trở thành con dâu hiền thảo có vai trò tương tự như chồng mình.

Cuối phim What a Wonderful Family! có chiếu trích đoạn phim Tokyo Story của đạo diễn Yasujiro Ozu. Tôi đã muốn xem Tokyo Story từ lâu nhưng đáng tiếc là đến nay vẫn chưa xem. Tôi nghĩ rằng việc xem trước Tokyo Story, thấm nhuần tinh thần của nó có lẽ là một bước rất quan trọng trước khi thưởng thức What a Wonderful Family! của Yamada Yoji – một người rất yêu mến Ozu.

Điểm đánh giá: 8/10

The Boy and the Beast

bg0

The Boy and the Beast có tên gốc tiếng Nhật làバケモノの子 (tạm dịch: Đứa con của quái thú). Sau khi xem xong phim, tôi nhận thấy mình thích tên gốc hơn là tên tiếng Anh chính thức của phim. Tên gốc nói lên bản chất mối quan hệ giữa Ren hay Kyuta với Kumatetsu, họ đã thực sự trở thành cha con. Trong khi đó, tên tiếng Anh của phim chỉ như một phép cộng đơn giản giữa người này với người kia; hơn nữa, tựa phim dễ khiến người ta liên tưởng đến Beauty and the Beast dù hai phim không có bất kì sự tương đồng nào về nội dung.

The Boy and the Beast là phim thứ hai của đạo diễn Hosoda Mamoru tôi được xem sau Wolf Children. Không biết có phải vì The Boy and the Beast là phim tiếp theo của Hosoda sau Wolf Children không mà hai phim mang tinh thần và phần nào đó truyền tải thông điệp giống nhau đến lạ lùng. Như thể, The Boy and the Beast là một câu chuyện được mở rộng từ thế giới của Wolf Children vậy. Cả hai phim đều khai thác mối quan hệ giữa con người và thú vật, nếu như trong Wolf Children là tình mẫu tử và khai thác câu chuyện về gia đình thiếu vắng người cha thì The Boy and the Beast hoàn toàn ngược lại khi nói về tình phụ tử trong hoàn cảnh vắng bóng người mẹ. Điểm thú vị là cả hai phim đều không nói về sự khác biệt giữa người và thú như cách nhiều phim có đề tài tương tự thường hay làm; ngược lại, Hosoda kể câu chuyện về sự giống nhau giữa người và thú, ông không muốn người xem nhìn nhận sự khác nhau chỉ đơn giản ở mức độ giống loài mà muốn người xem cảm nhận về các nhân vật ở mức độ là những cá thể bình đẳng với nhau. Vì vậy, sự khác biệt giữa người và thú trong câu chuyện của Hosoda chỉ đơn thuần nằm ở thể xác bên ngoài, là cái cớ cho nhân vật tự khám phá bản thân mình, khám phá về đối phương khi bị đặt trong môi trường có vẻ như không dành cho mình. Nếu như Wolf Children nói về quá trình trưởng thành của Ame và Yuki (người sói) khi cố gắng hòa nhập trong cộng đồng người thì ngược lại, trong The Boy and the Beast, Ren (con người) cố gắng để hòa nhập với cộng đồng quái vật. Cả hai hành trình đều tràn đầy cảm xúc và để lại nhiều bài học triết lí về cuộc sống.

Tôi rất thích không khí phim The Boy and the Beast: nửa đầu vui vẻ, nửa sau trầm buồn. Những nhân vật trong phim cũng thú vị và hầu như tôi thích hết tất cả các nhân vật trong phim. Tôi thích sự phóng khoáng của Kumatetsu, sự độc lập và ham học hỏi của Kyuta, sự ấm áp của Kaede, sự dịu dàng của Hyakushubo… Về mặt thị giác, tôi cũng thích đồ họa trong phim và hình ảnh Kyuta đứng đơn độc trong dòng người qua lại đông đúc, miệng cậu không ngừng lẩm bẩm: “Tôi ghét, tôi ghét, tôi ghét…” với lỗ đen trong người ngày càng lớn dần. Hình ảnh về con người cô độc như thế luôn cuốn hút tôi.

Sau Wolf Children The Boy and the Beast, Hosoda Mamoru đã trở thành cái tên thứ hai tôi yêu thích trong dòng phim anime Nhật Bản sau Shinkai Makoto. Chắc chắn, tôi sẽ tìm xem những phim còn lại của Mamoru-sensei trong một dịp gần nhất có thể.

Điểm đánh giá: 9/10

Creepy

creepy

Tôi đã mua vé xem phim Creepy mà không hề đọc qua thành phần đoàn làm phim. Vì vậy, khi nhận được tờ giấy đăng thông tin phim ở đầu buổi chiếu và biết được phim có sự tham gia của Takeuchi Yuko, một niềm phấn khích sảng khoái không ngừng len lỏi trong tôi. Tôi đã hâm mộ nàng từ rất lâu, đã gần 8 năm kể từ ngày tôi xem Ima, ai ni yukimasu và lần đầu tiên bắt gặp nụ cười của nàng rồi cảm mến nàng. Creepy là sự tái hợp giữa nàng và bạn diễn Nishijima Hidetoshi trong Strawberry Night. Creepy cũng là phim thứ hai của đạo diễn Kurosawa Kiyoshi mà tôi được xem sau Real. Trước đó, tôi đã rất muốn xem phim Kairo của ông nhưng chưa có can đảm để xem. Ngoài ra, Creepy cũng là cơ hội giúp tôi tái ngộ với nam diễn viên Kagawa Teruyuki. Tôi rất thích diễn xuất của Teruyuki trong phim Key of Life; do đó, tôi vô cùng chờ đợi vai diễn của anh trong Creepy. Vì ba lí do nêu trên, Creepy trở thành một trong những phim tôi vô cùng mong đợi ở kì Liên hoan phim Nhật năm nay.

Creepy có mạch phim chậm rãi nhưng vẫn duy trì được sự hồi hộp suốt cả phim trong không khí căng thẳng nhưng lại có gì đó lạ kì. Bộ phim mở đầu bằng một phán đoán sai lầm về tâm lí tội phạm của Takakura (Nishijima Hidetoshi); sau đó, vì việc này mà anh đã từ bỏ nghề thanh tra, chỉ chuyên tâm làm giáo sư giảng dạy ở trường đại học. Tôi cứ nghĩ rằng anh sẽ trở nên thận trọng hơn, nào ngờ, anh vẫn quá tự tin đến mức kiêu ngạo trước những phán đoán của mình. Trong quá trình xem phim, rất nhiều lần tôi cảm thấy bực bội và căm ghét cho thói ngạo mạn của Takakura, tôi thậm chí còn cảm thấy ghét anh hơn cả Nishino (Kagawa Teruyuki). Lí do tôi ghét Takakura là vì tôi đã từng hi vọng ở anh, từng nghĩ rằng anh thực lòng muốn giúp đỡ Saki tìm lại người thân. Nhưng quá trình điều tra vụ mất tích của gia đình Saki dần hé lộ con người thực của Takakura, bao nhiêu lời hứa hẹn anh dành cho Saki trước khi yêu cầu cô hỗ trợ điều tra đều bị chính anh vi phạm. Tôi ghét cách anh luôn nói “thật thú vị” mỗi khi Saki cố nhớ lại những chuyện đã xảy ra 6 năm về trước với tâm trạng vô cùng đau khổ, anh không hề chú ý đến cảm xúc của cô bé mà chỉ chăm chăm đi tìm mảnh ghép còn thiếu cho câu đố hóc búa anh thèm khát giải mã. Tôi ghét cách anh cười vui vẻ khi Nogami thông báo đã tìm được xác người thân của Saki ở nhà hàng xóm kế bên, mọi thứ diễn ra đúng như anh suy đoán, tôi ghét vì trong giây phút ấy, anh chỉ chú trọng đến sự sảng khoái khi đã giải mã được vụ án mà không hề nghĩ đến việc Saki sẽ buồn khi biết người thân của cô rốt cuộc đã qua đời sau suốt 6 năm cô sống trong sự chờ đợi và day dứt. Tôi thầm mong con người này phải bị trừng phạt vì sự kiêu ngạo của mình. Quả nhiên, Kiyoshi không khiến tôi thất vọng: ông đã trừng trị nhân vật chính bằng hình phạt theo tôi nghĩ là thích đáng. Tôi ghét Takakura có lẽ cũng hệt như cách mà Saki đã ghét vì thất vọng nơi con người anh, khi cô giận dữ thốt lên rằng: “Rốt cuộc, anh cũng chẳng khác những người kia.” Trong vai diễn Takakura, Nishijima Hidetoshi khiến tôi có chút bất ngờ vì hai phim trước đó của anh mà tôi xem là Boku to star no 99 nichiStrawberry Night; trong hai phim này, vai diễn của anh đều là người đàn ông hiền lành, có phần nào đó nhu nhược. Do đó, Creepy đã góp phần đem lại cho tôi cái nhìn mới về khả năng diễn xuất của Hidetoshi.

Kagawa Teruyuki vẫn làm tốt vai trò của mình trong Creepy như đã từng với thành công của Key of Life. Anh thể hiện được sự bệnh hoạn, nét bí ẩn dị kì bao quanh nhân vật Nishino. Takeuchi Yuko cũng hoàn thành tròn vai một người vợ ân cần, dịu dàng nhưng có nhiều nỗi lòng chưa được bày tỏ.

Trong Creepy, hình ảnh những xác chết được xử lí bằng cách đưa vào một bao nylon lớn, sau đó hút hết chân không bên trong khiến cho xác người bị co rút, tay chân gập cong lại như một bào thai nằm co ro trong bụng mẹ, như một thớ thịt trong thực phẩm đóng gói khiến tôi nhớ đến loạt ảnh Flesh Love của nhiếp ảnh gia Hal (photographerhal.com). Nếu như hình ảnh này trong bộ ảnh của Hal tượng trưng cho tình yêu hòa quyện đến quấn quít, không thể tách rời giữa hai người thì trong Creepy, nó mang một ý nghĩa hoàn toàn trái ngược: nó tượng trưng cho cái ác, cho sự biến đổi và đánh tráo bản chất của sự vật, cho sự thanh tẩy tội lỗi nhơ nhuốc; có lẽ, phần nào đó nó còn cho thấy sự đơn độc của con người. Tôi không biết liệu có phải Kiyoshi đã xem những bức ảnh của Hal và lấy nó làm nguồn cảm hứng để đưa vào phim không?

Tôi rất thích kết phim của Creepy. Khó mà nói đây là một kết thúc vui hay buồn dù nó chấm dứt bằng cái chết của nhân vật phản diện nhưng lại không hẳn là chiến thắng cho nhân vật chính diện; và thực ra thì, với cách xây dựng nhân vật của Kurosawa Kiyoshi, khó có thể nói rõ ràng ai tốt ai xấu, mỗi nhân vật đều có những vấn đề riêng. Tiếng thét cuối cùng của Yasuko trong phim khiến lòng tôi thắt lại. Những thanh âm tuyệt vọng cho thấy rằng nàng vẫn chưa thoát khỏi cơn điên loạn ấy, và theo một nghĩa nào đó, có lẽ Takakura đã mất nàng. Mãi mãi.

Điểm đánh giá: 8/10

The Anthem of the Heart

bg_top

Thuộc thể loại coming of age, The Anthem of the Heart kể về quá trình trưởng thành của bốn nhân vật: Naruse Jun, Sakagami Takumi, Nito Natsuki, Tasaki Daiki. Nội dung phim không quá mới lạ khi xoay quanh việc tổ chức chương trình cho lễ hội giao lưu hằng năm của nhóm bạn trẻ có tính cách khác nhau bất đắc dĩ bị thầy chủ nhiệm phân công nhiệm vụ. Có thể dễ dàng tìm thấy nội dung tương tự như thế này ở rất nhiều phim Nhật khác. Tuy nhiên, đội ngũ làm phim đã đem lại sự tươi mới cho câu chuyện bằng cách tạo ra những chi tiết rất độc đáo xoay quanh nhân vật chính. Cô bé Naruse Jun vì mặc cảm bản thân là nguyên nhân gây ra sự đổ vỡ trong gia đình nên đã tự ám một lời nguyền lên chính mình: cô không thể thoải mái nói ra những điều mình suy nghĩ vì khi nói, cô sẽ bị đau bụng. Lời nguyền này khiến khán giả vừa thương cảm Jun, vừa tạo ra những hành động biểu hiện bên ngoài rất hài hước của cô.

Không khó để đoán ra kết thúc câu chuyện sẽ là buổi trình diễn nhạc kịch thành công của nhóm bạn trẻ và sau buổi diễn, mỗi người phần nào đó đều trưởng thành hơn. Tuy nhiên, tình cảm của nam nhân vật chính Sakagami Takumi lại là thứ khó đoán với hầu hết khán giả xem phim; thông qua đó, The Anthem of the Heart đưa ra thêm một ngoại lệ thú vị: không phải lúc nào nam chính và nữ chính cũng là một cặp. Mặc dù, có rất nhiều khán giả khó chịu trước việc Takumi không yêu Jun nhưng tôi nghĩ rằng nếu như Takumi chấp nhận lời tỏ tình của Jun, có lẽ The Anthem of the Heart sẽ không trở nên đáng nhớ đến như vậy. Phim cho thấy quá trình Jun thoát ra khỏi quả trứng do mình tự tạo để bước ra thế giới bên ngoài, để một lần nữa mở rộng tâm hồn với mọi người; trong quá trình này, Takumi là người hỗ trợ Jun, là chiếc cầu nối đầu tiên của Jun – đó cũng là lí do cô bé đã yêu cậu. Tuy nhiên, nếu ngay lần mở lòng đầu tiên đã được đón nhận, chúng ta sẽ có chút hoài nghi về sự độc lập của Jun sau này, liệu cô đã thực sự trở nên mạnh mẽ chưa? Nhưng chính vì Takumi đã từ chối Jun và cô bé vẫn có thể mạnh mẽ đứng dậy, có thể một mình bước lên sân khấu ca vang bài hát Watashi no koe (tạm dịch: Giọng nói của tôi), có thể lại mỉm cười lần nữa nên chúng ta biết rằng, không, chúng ta thực sự tin tưởng rằng Jun đã vượt qua được cái bóng của quá khứ, những ngày sắp tới của Jun, cho dẫu có chuyện gì xảy ra thì cô bé vẫn vượt qua được.

Âm nhạc là một điểm rất đặc sắc trong The Anthem of the Heart. Bộ phim mang đến cho khán giả cảm nhận mới về những giai điệu cổ điển trong các phim nhạc kịch nổi tiếng khi đặt lại lời bài hát phù hợp với tâm trạng của Jun. Trong phim, tôi thích nhất là hai bài hát: Tamago no naka ni wa nani ga aru (tạm dịch: Trong quả trứng có gì?) chuyển lời từ bài Around the world, Watashi no koe chuyển lời từ bài Greensleeves.

Phần đồ họa và màu sắc trong phim rất đẹp. Tôi thích hình ảnh quả trứng do Jun tưởng tượng: hình ảnh quả trứng nứt ra từng chút một trong những lần Jun mở lòng, hình ảnh biển trứng vàng mênh mông như nhấn chìm Jun vào trong đáy sâu của nó… Khi download album nhạc The Anthem of the Heart, tôi mới phát hiện ra một điều thú vị: chữ “trứng” (tamago) trong phim không phải viết Hán tự là 卵 (noãn) mà viết Hán tự là 玉子 (ngọc tử). Chữ 玉子 lại khá giống chữ “hoàng tử” (ouji) với Hán tự là 王子 (vương tử). Vì lẽ đó, tôi đã hiểu tại sao một trong những cảnh quan trọng nhất phim: khi Jun đau khổ và cầu xin có vị hoàng tử nào đó đến cứu cô bé thì không có chàng hoàng tử nào cả, chỉ có quả trứng xuất hiện. Đó là phép chơi chữ của biên kịch giữa 王子 (hoàng tử) và 玉子 (trứng). Cả hai chỉ khác nhau một đường nét nhưng lại có ý nghĩa hoàn toàn đối nghịch với Jun: một bên là thiên đường, một bên là địa ngục. Khi chìm trong những tháng ngày đau khổ, cô bé chỉ thấy trứng lẽ ra đã có thể là vị hoàng tử cô hằng mơ ước, nhưng một dấu chấm, một vết nhơ đã hủy đi tất cả. Cô không thấy được quả trứng như chính nó, rằng nó cũng là một “viên ngọc” nhỏ bé đáng trân trọng. Vậy nên, cũng có thể gọi The Anthem of the Heart là hành trình của một cô bé khám phá về quả trứng mà cô bất đắc dĩ nhận được. Không có vị hoàng tử nào cả. Chỉ có cô và trứng. Và bên trong quả trứng có những gì?

Điểm đánh giá: 9/10

The Magnificent Nine

tonorisoku_sub2

Nếu chỉ đọc qua nội dung tóm tắt, The Magnificent Nine dễ cho người đọc hình dung bộ phim sẽ khá khô khan và nghiêm túc. Thế nhưng, sự thật hoàn toàn ngược lại: The Magnificent Nine rất hài hước và dễ thương. Điểm thành công của phim là dù có nhiều nhân vật xuất hiện nhưng từng nhân vật đều được khắc họa tính cách rõ ràng, có những cử chỉ cao đẹp hay hành động đáng yêu tạo nên thiện cảm tốt đẹp trong lòng người xem. Xoay quanh nội dung chính của phim, The Magnificent Nine đưa ra rất nhiều bài học về các chủ đề như lòng nhân đạo, tình bạn hữu, tình gia đình, lí tưởng sống… Do đó, bộ phim vừa có tính giải trí, đồng thời cũng có tính giáo dục.

Tôi rất thích vai diễn của Tsumabuki Satoshi trong phim này. Anh có nụ cười và ánh mắt rất hiền. Eita, Takeuchi Yuko… vẫn diễn tốt như thường lệ.

Điểm đánh giá: 8/10

Tsukiji Wonderland

maxresdefault-1

Tsukiji Wonderland đã giúp tôi có được cái nhìn toàn cảnh về khu chợ cá Tsukiji. Trước đây, tôi chưa tìm hiểu về Tsukiji bao giờ; vì vậy, khoảng thời gian gần hai tiếng xem phim như một khám phá thú vị với tôi. Thông qua Tsukiji Wonderland, tôi không chỉ được tham quan khu chợ mà còn biết được một số kiến thức về các loài cá theo những mùa trong năm ở Nhật, cách chế biến chúng như thế nào… Với Tsukiji Wonderland, mọi thứ không chỉ dừng lại ở việc biết mà còn là cảm nhận: tôi có thể cảm nhận rõ tình yêu dành cho cá, sự đam mê công việc, sự tận tụy trong việc đáp ứng nhu cầu khách hành của những thương nhân bán cá ở chợ. Cách họ nói về cá thật say mê dù có người nói về nó một cách nghiêm túc, có người lại nói theo kiểu hài hước.

Xét về mặt nội dung, có thể chia Tsukiji Wonderland thành ba phần chính: phần nói về khu chợ, phần nói về cá, phần nói về dự cảm tương lai trong thói quen ăn uống của giới trẻ Nhật. Tôi thích cả ba phần này. Phim kết thúc với chút nỗi buồn lắng đọng khi một vị thương gia cao tuổi ở khu chợ trong đêm giao thừa cho biết rằng có thể ông chỉ còn bán cá ở Tsukiji vài năm nữa thôi là về hưu; khi đó, có lẽ ông sẽ đóng cửa tiệm tại Tsukiji vĩnh viễn vì con trai ông không có ý định sẽ nối nghiệp cha, việc bán cá là tổ nghiệp đã kéo dài của thế hệ gia đình ông hơn trăm năm – có lẽ, nó còn có tuổi đời dài hơn chính bản thân khu chợ, vậy mà giờ đây, việc bán cá lại chấm dứt trong thế hệ của ông.

Tsukiji Wonderland có màu sắc và những góc quay rất đẹp. Một trong những cảnh tôi thích nhất có lẽ là cảnh giáo sư Theodore C. Bestor đi vòng quanh Tsukiji vào buổi chiều – thời điểm khu chợ này đã ngừng hoạt động. Lúc ấy, hầu như không còn bóng dáng con người nữa, chỉ có những con mèo lang thang đây đó. Có lẽ, mùi cá đã hấp dẫn chúng. Và nơi đó sẽ luôn là thiên đường cá như thế, dù trong những cuộc buôn bán sôi nổi giữa người yêu cá với người yêu cá hay trong tưởng tượng của lũ mèo khi các hàng cá đã bán hết, chỉ còn sót lại thứ mùi vị đặc trưng ngày qua ngày.

Điểm đánh giá: 8/10

Kodaki
1:20 pm
7.11.2016

Advertisements

2 thoughts on “Japanese Film Festival 2016

  1. Thật là hay quá điヾ(*´∀`*)ノ!!!!!!!
    Có cảm giác tìm được người có cùng với suy nghĩ của mình*huhu*rất vui được làm quen với anh/chị( ;;ω;;) năm nay em chỉ mua được 6 vé (vì thời gian thi gấp rút quá, nên em ko kịp đi mua) quả thực các bộ phim đều mang cảm xúc riêng, mang lại cảm giác háo hức, mong đợi trong lòng người xem*thực ra ngay từ lúc xem trailer chung của các phim…TRỜI ƠI, kiểu em nghĩ mình có thể ngất ra đấy luôn*;> việc bán vé năm nay cũng vậy, mua được vé kiểu thấy hạnh phúc dã man, lại không phải xếp hàng đợi lâu như mấy năm trước:)))🌼🌼🌼em đang tìm trailer mà đầu mỗi phim hay chiếu, liền thấy bài viết trong “nhà” của anh/chị, đúng là ko tin nổi❤❤bài viết quá tuyệt vời!!!!!!!!
    P/s: cảm ơn anh chị đã đọc bài cmt này ạ:D

    Liked by 1 person

    1. Cảm ơn em vì đã đọc bài viết này của c. C rất vui khi đọc được những dòng cmt của em, biết được rằng cũng có người đồng suy nghĩ với mình về việc bán vé chứ không phải tất cả mọi người đều có ý kiến giống như những người mà c tình cờ ngồi xem chung trong buổi chiếu. Hi, c cũng hơi tò mò một chút, không biết là em có thể cho c biết 6 phim em đã xem là phim gì không? C đoán là em cũng đi xem phim một mình nên 6 vé là 6 phim phải không? :).

      Like

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s