Eternity


198340

Những gì gọi là “vĩnh cửu” thường đem đến giá trị phổ quát. Eternity của Trần Anh Hùng có lẽ đã đi đúng với tính chất của sự vĩnh cửu khi anh lược bỏ đi những chi tiết, anh chỉ cho người xem thấy những mảng màu chính trong một bức tranh lớn. Đó là bức tranh về gia đình, hay đúng hơn là về một dòng họ, về sự kế truyền, về dòng chảy không ngừng của cuộc sống. Eternity có thể là câu chuyện rất cá nhân nếu như được kể với đầy đủ chi tiết và tập trung vào một nhân vật chính. Câu chuyện của Valentine, Mathilde, hay Gabrielle đều có thể làm thành một phim riêng bởi dường như họ vẫn còn những góc khuất thú vị mà có lẽ phạm vi rộng lớn của câu chuyện đã bỏ mất đâu đó. Tuy vậy, khi ấy Eternity sẽ không còn là vĩnh cửu nữa.

Sự tỉnh lược và một tiếng gõ

012726-jpg-r_1920_1080-f_jpg-q_x-xxyxx

Eternity, dường như Trần Anh Hùng muốn quay lại lối kể chuyện giản dị nhất mà con người từng biết đến thông qua cổ tích hay thần thoại. Lối kể chuyện chỉ quan tâm đến khung sườn chính tạo nên nội dung mà gạt bỏ đi lớp da thịt bên ngoài giúp câu chuyện trông có vẻ đầy đặn. Trong quyển Laughter in the dark, Vladimir Nabokov đã tự động làm mất hứng thú thông thường khi đọc tiểu thuyết của độc giả khi ông kể ra hết toàn bộ nội dung câu chuyện trong vài câu đơn giản ở trang đầu tiên của quyển sách. Ông làm việc ấy để đưa ra một kết luận trước khi chính thức kể chuyện: “mặc dù có rất nhiều khoảng trống trên bia mộ, rêu bao phủ quanh bản rút gọn cuộc đời của một người đàn ông, thì chi tiết luôn được hoan nghênh.” Với Nabokov, ông cho người xem thấy trước cái tổng thể để nhấn mạnh giá trị của chi tiết, rằng “chi tiết luôn được hoan nghênh”. Nhưng ở Eternity, Trần Anh Hùng lại tự động gạt bỏ chi tiết và kể chuyện với những tình tiết chính được giản lược. Vậy, có thể nói rằng thay vì kể chuyện bằng chi tiết, Hùng đã kể chuyện bằng tình tiết được không? Không. Không hẳn. Càng xem đến cuối phim, tôi càng nhận ra rằng, Hùng vẫn kể chuyện bằng chi tiết. Chính xác thì anh đã biến tình tiết thành chi tiết. Vậy còn thứ vốn là tình tiết trong những câu chuyện được kể theo lối thông thường đã biến đổi thành gì trong Eternity? Là không khí. Hùng đã hi sinh chi tiết để những tình tiết và một số ít chi tiết còn sót lại tự va đập vào nhau, tất cả tạo thành bầu khí quyển riêng.

010226-jpg-r_1920_1080-f_jpg-q_x-xxyxx

Hùng luôn nhấn mạnh rằng, với anh, câu chuyện là rác, chi tiết là rác, cảm xúc là rác, nhân vật cũng là rác, chỉ có thứ duy nhất quan trọng là không khí – đó cũng là thứ khó tạo ra nhất. Anh chủ trương hi sinh tất cả (nếu cần phải như thế), chỉ để tạo nên không khí. Khi xem Eternity, một số người yêu mến Trần Anh Hùng đã tỏ ra có chút thất vọng với tác phẩm này của anh. Họ thất vọng vì Eternity vẫn là một câu chuyện có trình tự rõ ràng, một câu chuyện tưởng chừng không có chi tiết nhưng thực chất vẫn có nếu tạm xem tình tiết là chi tiết. Hùng đã hi sinh nhân vật, chi tiết, phần nào đó là cảm xúc, nhưng anh không hi sinh câu chuyện – chính điều này làm cho một số khán giả thất vọng bởi họ chờ đợi Hùng sẽ sáng tạo hơn, phá cách hơn. Tuy vậy, tôi hoàn toàn không thất vọng vì anh bởi Eternity đã tạo được không khí riêng, bởi anh đã khiến tôi rung động trong một số khoảnh khắc nhất định. Sự rung động ấy không phải là thứ nổi bật, hoàn toàn tách biệt so với bộ phim. Nó như mùi hương thanh tao toát ra từ người phụ nữ quí phái, ta đã mơ hồ cảm nhận được sự tồn tại của nó từ trước đó, có lẽ từ rất lâu, nhưng chỉ trong vài khoảnh khắc đặc biệt, sự thoang thoảng nơi đầu mũi mới chảy tràn vào sâu trong làn hơi ta hít thở; khi đó, chúng nhanh chóng lấn át mọi giác quan còn lại để rồi biến thành thứ rung động khó quên. Khoảnh khắc ấy đã đến trong tôi hai lần, đó đều là hai lần gần cuối phim.

Lần đầu tiên là khi Mathilde sắp chết, khung hình cho thấy Henri tựa đầu vào ngực cô, bàn tay cô nhẹ nhàng vuốt ve mái tóc anh, đôi môi cô phát ra làn hơi nhỏ nhẹ như tiếng người mẹ khẽ suỵt đứa con khi dỗ dành hay ru ngủ. Người đàn ông cáng đáng cho cả đại gia đình ấy bỗng chốc trở nên nhỏ bé. Mathilde trong giây phút như biến thành người mẹ của anh, người sinh ra anh, người thật sự có liên hệ máu mủ với anh, chính tình yêu và những đứa con của họ đã khiến cho sự liên kết giữa cha mẹ chúng không còn đơn thuần là tình yêu vợ chồng, tình yêu ấy trở thành một sinh mệnh nối liền hai con người, trở thành thứ trọng trách thiêng liêng là duy trì sự sống của người này trong người kia nếu một trong hai mất đi. Tôi rung động bởi vì qua lời kể của người kể chuyện, tôi biết rằng Mathilde có những góc khuất mà Henri không thể với tới được, anh không thể hoàn toàn hiểu hết con người nàng, từng có lúc nàng cảm thấy tình yêu trong mình không còn như xưa nữa; nhưng sau cùng, trước khi lìa đời, nàng vẫn yêu thương, trân trọng anh với sự dịu dàng, điềm tĩnh nhưng mạnh mẽ, cứng cỏi.

524820

Lần rung động thứ hai là vào giây phút gần kết thúc phim, khi Valentine mất, khi cú máy dolly và giọng kể chuyện lặp lại giống hệt như lần đầu tiên giới thiệu về nàng. Cấu trúc vòng tròn chẳng có gì mới mẻ này không hiểu vì sao vẫn khiến tôi rung động. Lẽ dĩ nhiên, tôi có thể giải thích đơn giản là tôi rung động vì nhận thấy sau rất nhiều mất mát, cuộc sống vẫn tiếp tục, mọi thứ là vòng luân hồi giữa kết thúc và bắt đầu. Nhưng dường như, mọi thứ không chỉ đơn giản như thế. Làm sao người ta có thể rung động với thứ chân lí đã rất quen thuộc. Dường như, tôi rung động vì một thông tin đơn giản ở đầu phim được nhắc lại: “Ông Arthur và bà Julie Bourgeois có năm người con gái. Hai người trong số đó chết trẻ. Ba người kia, Hélène, Henriette và Valentine, đều cưới hỏi đàng hoàng.” Thông tin này khi xuất hiện ở đầu phim không mấy ấn tượng với tôi bởi nó chỉ như lời giới thiệu bình thường, bởi tôi đã dự tưởng rằng mình sẽ được theo dõi câu chuyện về cả ba người con gái của ông Arthur và bà Julie. Nhưng, khi thông tin này lặp lại ở cuối phim, trong một giây phút thoáng qua rất nhanh, nó khiến tôi nghẹt thở vì nỗi cô đơn tràn ngập. Nghe có vẻ thật phi lí. Tại sao lời giới thiệu gồm ba câu ngắn gọn nhưng có đến bảy nhân vật xuất hiện, trong đó chỉ có hai người đã mất, năm người vẫn còn sống đã có thể cho tôi thứ cảm giác đó? Hơn nữa, thông tin về năm người ấy dường như lại đang chen chúc nhau trong ba câu văn có vẻ quá đỗi chật chội bởi những câu sau đó, người xuất hiện thậm chí còn đông đúc hơn: “Từ ba người con gái này đã sinh ra mười tám người cháu, bốn mươi ba người chắt, một trăm năm mươi tư người thuộc thế hệ thứ ba kể từ đời cháu, và cho đến hiện giờ đã có tám mươi người thuộc thế hệ thứ tư kể từ đời cháu.” Người và người. Rất nhiều người. Rất nhiều con số. Vậy mà, tôi lại thấy cô đơn kinh khủng. Thông tin được lặp lại này đã nhắc tôi nhớ rằng ngay từ khởi điểm, chúng ta có rất nhiều lựa chọn về nhánh truyện để theo dõi: có thể là Hélène, Henriette hay thậm chí là vợ chồng Bourgeois. Nhưng Alice Ferney đã lựa chọn Valentine làm khởi nguồn đầu tiên và kết thúc cho câu chuyện mà hoàn toàn gạt bỏ hai người chị em còn lại của nàng. Chúng ta theo dõi một phần phả hệ gia đình Bourgeois từ nhánh gia đình của Valentine, chúng ta bị choáng ngợp bởi sự sống và cái chết luân phiên trong gia đình lớn của nàng đến nỗi trong khoảnh khắc nào đó, gia đình này dường như trở thành cả vũ trụ của thế giới ấy. Nhưng đến cuối phim, với thông tin được lặp lại và mở rộng thêm sau ba câu giới thiệu tiền đề đơn giản, ta nhận ra rằng cả sự rộng lớn trong thế giới của Valentine cũng chỉ là một nhánh rất nhỏ trên cây đời khổng lồ, chằng chịt nhiều gốc rễ, cành cây, tán lá sum suê. Ta tưởng rằng ta đã thấy tổng thể một bức tranh rộng lớn nhưng đến cuối cùng, ta mới giật mình phát hiện hóa ra thứ tổng thể mà ta thấy được cũng chỉ là một chi tiết nhỏ trong tổng thể khác rộng lớn hơn. Vì chỉ theo dõi câu chuyện xung quanh Valentine, chúng ta không biết được nhánh sự sống khởi nguồn từ gia đình của Hélène hay Henriette; có thể nói, vì Valentine, chúng ta đã hi sinh Hélène và Henriette. Chúng ta là Valentine cũng như chúng ta là chính chúng ta. Chúng ta sống và chúng ta chỉ được quyền theo dõi một câu chuyện xuyên suốt nhất, toàn vẹn nhất, câu chuyện ta sẽ không thể nào thoát khỏi nó cho dù có chán chường như thế nào, câu chuyện sẽ không cho ta bất cứ khả năng nào để thưởng thức nó dang dở bởi ta sẽ luôn ở đó – từ điểm khởi đầu cho đến kết thúc: đó là câu chuyện của chính mỗi người chúng ta với tư cách là một cá thể riêng biệt, độc lập suốt cuộc đời. Chúng ta có thể tạm “theo dõi” câu chuyện của người khác hoặc cùng người khác theo dõi một câu chuyện chung khi cả hai có sự gắn kết; nhưng, không ai có thể thật sự theo dõi hết trọn vẹn cuộc đời của ta cũng như ngược lại. Ta là người khán giả trung thành nhất trong câu chuyện của ta, ta không hề mảy may có khả năng bội phản việc theo dõi câu chuyện ấy. Ta không thể thoát khỏi chính ta. Tôi nhớ lại vào những ngày buồn bã tột cùng của mình, tôi đã ước rằng giá tôi có thể thoát ra chính mình, là một người khác, được theo dõi một câu chuyện hoàn toàn khác. Ý nghĩ rằng thời gian dường như chỉ trôi đi xoay quanh bản thân mình, dường như chỉ có một thời gian đơn độc duy nhất dành cho mình nhưng trong thực tế, thế giới vẫn vận hành với dòng thời gian của những người khác, với những sự kiện mãi mãi tôi không thể sống trong nó khiến tôi cảm thấy ngột ngạt và khó hiểu về sự tồn tại của tôi. Có lẽ, đó cũng là lí do con người yêu thích các bộ môn nghệ thuật sử dụng hình thức kể chuyện. Nhưng về cơ bản, với tư cách là một người vừa trải nghiệm, đồng thời vừa theo dõi chính câu chuyện của mình, chúng ta vẫn là những sinh thể rất cô đơn, không có quyền lựa chọn chủ thể, không có quyền thay đổi chủ thể, chỉ có quyền tự kết thúc bằng cách hủy diệt chủ thể. Những suy nghĩ ấy khiến cho khoảnh khắc khi khung hình giới thiệu Valentine lặp lại và tiếp nối bằng hình ảnh thời hiện đại của một cô gái trong dòng họ đã khiến tôi rung động vì trong chớp mắt, nó chạm đến rất sâu tâm thức tôi, nó là điều tôi đã luôn suy nghĩ, mồi lửa đã có sẵn trong tôi – nó chỉ chờ đợi sự va chạm thích hợp vào đúng thời điểm để bùng nổ. Bong. Tôi có thể nghe một tiếng gõ rất nhẹ chạm vào lòng mình. Dường như, tôi đã phần nào hiểu được cảm giác của Trần Anh Hùng khi anh xem phim của Jean-Pierre và Luc Dardenne hay Terrence Malick, khi anh chia sẻ rằng một bộ phim khiến anh rung động không phải là một phim sẽ cho anh bất kì thứ cảm xúc rõ rệt nào ngay thời điểm mọi thứ diễn ra trên màn ảnh, nhưng nó như một lực nhỏ khẽ gõ vào cánh cửa tâm hồn anh, thứ lực ấy nhẹ nhàng và tinh tế đến độ anh không nhận ra sự tồn tại của nó, nhưng nó vẫn kiên trì tiếp tục gõ và đến một lúc nào đó, nó tạo ra tiếng động đủ lớn khiến anh ngỡ ngàng vì rung động; khi ấy, cánh cửa của lòng anh như được mở ra. Với Eternity, có lẽ tôi đã hiểu được chính cảm giác đó của người đàn ông có nụ cười rất hiền ấy.

ywoen

Trong thế giới vàng cam, xanh dương

Trong Eternity, Hùng vẫn sử dụng những cú máy dolly dài quen thuộc của mình trong từng phân cảnh, những cú máy không bị ngắt quãng bởi các bức tường chia cắt không gian mà như đi xuyên qua từ cánh cửa này đến cánh cửa kia khiến tôi nhớ đến Mùi đu đủ xanh… Một lần nữa, Eternity là sự kết hợp chuẩn mực của Hùng và Mark Lee Ping Bin sau Norwegian Wood.

Toàn bộ bối cảnh của Eternity tạo nên sự thơ mộng và cả cảm giác tù túng. Bộ phim chủ yếu là cảnh nội diễn ra trong ngôi dinh thự của gia đình Valentine, Mathilde, và Gabrielle. Những cảnh ngoại cũng diễn ra trong vườn nhà hoặc những nơi gần khu vực sinh sống của ba gia đình. Việc này cho chúng ta thấy cuộc sống diễn ra trong phạm vi hẹp của những người phụ nữ ấy rất đỗi đơn sơ, dịu dàng.

eternite_photo-15

Tông màu chủ đạo của Eternity là màu vàng cam và màu xanh dương. Hai sắc màu nóng lạnh đối lập này như sự thể hiện tối giản hai mặt cảm xúc cơ bản của con người giữa vui và buồn, yêu thương và cô đơn, hạnh phúc và mất mát. Màu vàng cam xuất hiện trong những khung cảnh hạnh phúc như: cảnh gia đình quây quần trong khu vườn vào buổi chiều hoàng hôn, cảnh sinh hoạt cả nhà, cảnh Valentine lén nhìn Jules qua khung cửa khi anh đến cầu hôn nàng, cảnh Mathilde lần đầu ra mắt cả gia đình Henri… Ngược với màu vàng cam, màu xanh dương xuất hiện trong những khung cảnh buồn bã như: cảnh đám tang của Éternité – người con tuy có cái tên vĩnh cửu nhưng vợ chồng Valentine chỉ được gọi tên con trong vòng vài tiếng đồng hồ, đám tang của Jules, cảnh Elisabeth mất, cảnh Francois mất, cảnh Mathilde mất… Hầu như, không có phân cảnh nào trong phim sử dụng màu sắc sai lệch theo qui tắc này. Tôi vốn không phải là người hay để ý màu sắc chủ đạo của phim nhưng trong Eternity, Trần Anh Hùng chỉ sử dụng hai tông màu chính với dụng ý thị giác rất rõ ràng đến nỗi khi theo dõi phim được hơn phân nửa, chỉ cần vào đầu một phân cảnh nào đó, tôi đã có thể đoán trước cảnh đó sẽ là cảnh vui hay buồn dựa trên màu nền của phim. Tôi rất thích cách Hùng sử dụng tông màu xanh dương trong cảnh Francois mất, Gabrielle nằm trên giường ôm con lần cuối trước khi người ta mang cậu bé rời xa nàng vĩnh viễn. Tôi cảm nhận rất rõ sự cô đơn sóng sánh trong căn phòng ấy, trong chiếc giường ấy, trong ánh nắng yếu ớt của buổi sớm tinh mơ tràn qua khung cửa ấy khi giờ đây, hai sinh mệnh cùng nằm bên nhau mà chỉ còn một làn hơi thở duy nhất của người mẹ trẻ.

Quá khứ của quá khứ

eternite

Trong dàn diễn viên tham dự Eternity, ngoại trừ Mélanie Laurent, tôi chưa xem qua bất kì phim nào có sự tham gia diễn xuất của ai trước đó. Tôi đã muốn xem Amélie từ lâu nhưng đến giờ vẫn chưa dành thời gian cho nó nên tôi chưa có dịp thưởng thức diễn xuất của Audrey Tautou trước khi đến với Eternity. Với Mélanie Laurent thì tôi đã có ấn tượng rất tốt về nàng từ phim Inglourious Basterds của Quentin Taratino. Trong Eternity, nàng vẫn giữ được sự dịu dàng, cuốn hút. Vì nhấn mạnh yếu tố không khí hơn là cảm xúc, phần lớn phim của Hùng đều không đòi hỏi diễn viên phải vận dụng quá nhiều kĩ thuật diễn xuất. Nếu như có bất kì phân cảnh nào trong phim anh đạo diễn mà người xem nhận thấy rõ diễn xuất nổi bật của diễn viên, trầm trồ tán thưởng trước nhân vật họ diễn, khi sự chú ý tập trung quá nhiều vào nhân vật thì dường như nó sẽ phá hỏng không khí chung của phim mà Hùng muốn người xem cảm nhận. Vì vậy, bên cạnh việc tạo không khí, cách sắp đặt hình ảnh trong phim của Hùng cũng đã san sẻ phần lớn trọng trách của diễn viên trong việc tạo cảm xúc cho khán giả.

011164-jpg-r_1920_1080-f_jpg-q_x-xxyxx

Eternity, tôi thích nhất là cách Hùng bố cục và xử lí hình ảnh trong việc thông báo đến khán giả cái chết của một nhân vật nào đó. Eternity là câu chuyện có rất nhiều nhân vật, chính xác hơn là rất nhiều nhân vật được sinh ra và cũng nhiều nhân vật qua đời, sự sống và cái chết liền kề, nối tiếp nhau phát triển không ngừng. Do đó, có lẽ phần lớn khán giả sẽ khó nhớ hết tên, nhận biết được tất cả sự hiện diện của những nhân vật trong phim. Vậy nên, có một công thức dễ thấy trong Eternity là: giới thiệu thoáng qua về nhân vật trước khi họ mất – họ mất – flashback hiện lại một vài hình ảnh tiêu biểu của họ khi sự sống căng tràn nhất, đồng thời cũng cung cấp thêm cho người xem biết một phần câu chuyện về họ mà mạch truyện chính trước đó đã bỏ qua. Trước khi Jules mất, khán giả chỉ biết anh là một người đàn ông chung thủy và kiên định, anh là sự lựa chọn đúng đắn của Valentine. Sau cảnh đám tang của Jules, người xem thấy cụ thể hơn hình ảnh anh là người chồng lãng mạn như thế nào khi ngồi đàn cho Valentine nghe trên một con thuyền đậu gần bờ sông, người xem cũng thấy anh là một người cha tận tụy như thế nào khi chơi trò tạt nước cùng các con. Trước khi Francois mất, khán giả chỉ mơ hồ nhận biết được cậu là một đứa trẻ trầm tính khi ngồi chơi một mình trong lúc những anh chị em khác cùng chơi đùa vui vẻ với nhau. Sau cảnh buổi sáng cuối cùng cậu nằm trên giường ngủ bên cạnh mẹ, người xem mới thấy thêm một hình ảnh khắc họa rõ nét hơn về con người cậu: một buổi chiều mẹ cậu nghe tiếng đàn và tìm thấy cậu lặng lẽ ngồi đàn trong một góc vườn nhà, đôi bàn tay cậu hãy còn quá nhỏ bé trước cây đàn guitar; một cậu bé yêu âm nhạc, một cậu bé trầm tĩnh đáng mến, vậy mà đến khi cậu mất, chúng ta mới cảm nhận được điều này. Trước khi Charles mất, chúng ta chỉ biết anh là chồng của Gabrielle từ cuộc hôn nhân gia đình hai bên sắp đặt, có vẻ như anh là một người chồng tốt. Sau khi cơ thể anh biến mất dưới làn nước xanh ngọc vào một ngày tưởng chừng sẽ trôi qua bình yên ấy, chúng ta mới biết rõ hơn vài chi tiết trong đêm tân hôn của anh và Gabrielle, cuộc trò chuyện giữa hai người vào buổi sáng sau hôm ấy. “Nằm giường bên nào em thấy thoải mái hơn?” Charles đã hỏi Gabrielle như thế trước khi cả hai ngủ với nhau đêm đầu tiên. Chỉ một câu hỏi đơn giản như thế, anh đã khiến tôi cảm thấy yêu mến anh vô cùng. Anh tôn trọng và để vợ lựa chọn nơi thích hợp với nàng. Nhưng khi chúng ta biết được thêm những điều khiến ta yêu mến anh thì đó cũng là lúc anh đã mất, những hình ảnh ta thấy được chỉ là thì quá khứ trong hiện tại của phim, mà không, cả bộ phim vốn cũng đã là quá khứ khi được tường thuật lại bởi một người kể chuyện khách quan; vì vậy, thứ ta thấy được về anh chỉ là quá khứ trong quá khứ, một thời điểm đã lùi về trước rất sâu, một mất mát chỉ còn lại lớp cặn tinh chất theo thời gian. Luôn là như thế có phải không? Là điều mà chúng ta đã luôn biết rằng con người chỉ đặc biệt trân trọng thứ gì đó khi nó đã mất đi. Thế nhưng, dù có nhủ lòng bài học này nhiều lần như thế nào, chúng ta vẫn cứ thường xuyên vi phạm nó. Có lẽ, nếu tất cả nhân vật đều được giới thiệu điểm tốt ngay từ đầu và rồi ta biết họ chết thì sẽ không để lại ấn tượng trong một câu chuyện có quá nhiều nhân vật như Eternity. Cách xử lí như Hùng đã chọn là vô cùng hợp lí và hiệu quả vì nó gợi cho tôi nhớ đến cảm giác tiếc nuối khi mọi thứ đã quá muộn màng.

The Mirror is a Lonely Hunter

013351-jpg-r_1920_1080-f_jpg-q_x-xxyxx

Có một hình ảnh lặp đi lặp lại trong Eternity khiến tôi đặc biệt lưu ý là hình ảnh của những tấm gương. Gương thường tượng trưng cho một mặt khác của con người, thế giới song song, thế giới ảo, sự sao chép… Trong Eternity, Hùng như biến những tấm gương thành tên hiểm ác, kẻ báo trước sự chết chóc, nỗi buồn, cô đơn, mất mát… Tấm gương lần đầu xuất hiện với một dụng ý nghệ thuật rõ rệt là khi Éternité mất, Valentine ôm Jules mà khóc, góc máy khi ấy nhẹ nhàng đi từ bờ vai của Jules đến phía tấm gương ở bức tường đằng sau, máy dừng ở đó khoảng thời gian đủ lâu, ta được quan sát vẫn hình ảnh cặp vợ chồng ôm nhau an ủi trước cái chết của con họ nhưng là ở một góc nhìn khác – góc nhìn phản chiếu cái bóng của họ. Tấm gương xuất hiện lần thứ hai vào lúc Elisabeth, Margaux cùng mẹ ngồi chải tóc trong khu vườn. Elisabeth đã nhìn khuôn mặt nàng trong tấm gương nhỏ hình oval cầm trên tay, một tia nắng khúc xạ lóe lên trong gương. Và rồi sau đó, tông màu vàng cam ấm áp ngoài vườn trước đấy đột nhiên chuyển thành tông màu xanh dương tối tăm, lạnh lẽo trong phòng ngủ của nàng. Chúng ta chưa thấy nàng, chúng ta chỉ thấy tấm gương lớn nơi góc phòng, chúng ta thấy mẹ nàng đang hoảng hốt, bà từ từ lùi dần về phía tấm gương như thể muốn tránh khỏi điều gì đó kinh khủng đang diễn ra ở góc nào đó trong phòng mà ta không thấy được. Và rồi cuối cùng, ta thấy nàng nằm bất động trên giường với khuôn mặt, cơ thể không còn mang chút dáng vẻ nào của sự sống nữa. Khi Charles mất, chúng ta cũng thấy tấm gương lớn phản chiếu hình ảnh Gabrielle bần thần đi đi lại lại trong phòng, tấm gương không cho hình ảnh rõ nét, nó nhòe thành hai hay ba Gabrielle với những đường viền mờ nhạt. Cứ như thế, tấm gương đọng lại trong tôi cảm giác đặc biệt khi Eternity kết thúc. Hình ảnh ta thấy từ gương chỉ là thứ phản chiếu lại, không phải chủ thể thực chất. Hình ảnh đó là thứ thấy được nhưng không thể nắm bắt được cũng như quá khứ là thứ chúng ta biết được nhưng không thể thay đổi được, và có lẽ cũng như chính toàn bộ Eternity được kể lại với tất cả sự kiện đã thuộc về quá khứ ấy.

Bước tiến gần đến văn học

maxresdefault-1

Trong Eternity, Trần Anh Hùng dùng nhạc cổ điển để lồng vào phim. Tôi rất thích những bản nhạc anh sử dụng. Dù không biết cụ thể bản nhạc nào nhưng tôi cảm nhận đó là thứ âm nhạc của Mozart và Debussy, có lẽ có một chút của Bach (*). Tôi thích cách anh dùng bản Clair de Lune của Debussy (đây là bản nhạc duy nhất tôi nhận ra trong phim) ở phân cảnh Mathilde lần đầu xuất hiện, nàng tươi cười bước qua dãy hành lang rồi tiến vào phòng khách gia đình Henri. Khung hình với tốc độ slow motion và thứ âm nhạc này dường như tạo thành cảm giác về một tình yêu tinh nguyên, rực rỡ lúc sơ khởi. Clair de Lune được lặp lại một lần nữa khi Henri và Mathilde đã cùng sinh sống với nhau nhiều năm, đã có thêm nhiều đứa con chung nhưng vào tối hôm ấy, anh vẫn thấy yêu nàng tha thiết, anh âu yếm hôn nàng, vuốt ve nàng. Clair de Lune vang lên gợi nhớ lại buổi ra mắt đầu tiên của nàng với gia đình anh, nó như thể muốn nói lên rằng tình yêu của hai người vẫn vẹn toàn theo cách nào đó.

010539-jpg-r_1920_1080-f_jpg-q_x-xxyxx

Toàn bộ câu chuyện Eternity diễn ra trên nền voice over với giọng người kể chuyện do Trần Nữ Yên Khê thể hiện, cô có chất giọng rất ngọt ngào. Thoại của nhân vật trong phim hầu như rất ít. Đây là một điều hết sức mạo hiểm vì nó dễ biến phim thành thứ hình ảnh minh họa cho lời kể. Nhưng, bằng cảm quan tinh tế về thị giác, bằng cách xử lí bố cục truyện thông minh qua việc dựng phim, Trần Anh Hùng đã tạo được không khí riêng, giữ cho phim là tác phẩm điện ảnh đẹp và độc lập. Cách anh làm Eternity như thế này khiến tôi nhớ đến phim Tony Takitani của đạo diễn Ichikawa Jun. Tony Takitani cũng là phim chuyển thể từ tác phẩm văn học (truyện ngắn cùng tên của Murakami Haruki). Trong Tony Takitani, tuy Ichikawa không sử dụng voice over xuyên suốt cả phim nhưng ông quay những khung hình cho thấy nhân vật đang đọc lại lời văn kể chuyện trước khi chuẩn bị đối thoại với nhân vật khác. Ngày ấy, cách làm này của Ichikawa đã khiến tôi ngất ngây bởi tôi cảm nhận được từ ông tình yêu văn học, sự tôn trọng nguyên tác tối đa, sự nâng niu những lời văn của Haruki. Và bây giờ, dù chưa đọc tiểu thuyết L’Elegance des veuves của Alice Ferney nhưng khi xem Eternity của Hùng, tôi cũng có cảm giác tương tự như vậy. Tôi nhớ Hùng từng chia sẻ ở đâu đó rằng với anh, điện ảnh càng phát triển thì càng gần với văn học. Tôi đã sung sướng như điên khi đọc được câu nói ấy, biết được tâm tư ấy từ nhà làm phim tôi vô cùng kính trọng. Dẫu chỉ là trong khoảnh khắc, nó đã phần nào cứu rỗi một người luôn bị giằng xé giữa tình yêu văn học và tình yêu điện ảnh như tôi. Với Eternity, có lẽ Hùng đã tiến thêm một bước gần hơn trong việc tạo ra thứ điện ảnh rất gần với văn học nhưng vẫn giữ vững sự độc lập của nó.

013976-jpg-r_1920_1080-f_jpg-q_x-xxyxx

Điểm đánh giá: 9/10

Kodaki
1:07 pm
21.9.2016

(*) Tôi đã rất muốn ở lại rạp xem hết phần credit phim để biết được cụ thể Hùng đã chọn những bản nhạc nào nhưng rạp Bitexco 3/2, suất 10 giờ 55 vào sáng thứ hai ngày 12.9 đã không hề chiếu hết credit. Rạp tắt ngang credit khi chỉ vừa đến phần tên diễn viên. Tôi chưa từng xem ở rạp phim nào lại tắt credit nhanh như vậy, việc này diễn ra hầu như chỉ trong vòng vài giây ngay sau khi phim kết thúc. Nó để lại trong tôi chút cảm giác ấm ức, tiếc nuối khi không được thưởng thức bản nhạc cuối phim, không được đọc hết tên thành phần của đội ngũ làm phim.

(**) Subheading The Mirror is a Lonely Hunter được đặt dựa trên cảm hứng từ tên tác phẩm The Heart is a Lonely Hunter của nhà văn Carson McCullers. Tôi chưa đọc tác phẩm này nhưng rất thích tiêu đề của nó.

Advertisements

2 thoughts on “Eternity

    1. Cảm ơn bạn nhiều vì đã đọc bài của mình nhiều lần dù bài review này rất dài. Mình thực sự rất vui khi biết điều đó. Mình sẽ cố gắng tập viết cho tốt hơn trong thời gian sắp tới.

      Liked by 1 person

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s