Nerve


nerve-poster

Tôi đã xem Nerve khi chỉ đọc vài dòng tóm tắt giới thiệu phim ngắn gọn mà không xem trước trailer. Qua đó, tôi đã hình dung Nerve có lẽ sẽ tương tự như The Hunger Games hoặc sẽ có rất nhiều cảnh bạo lực, máu me. Cuối cùng, hóa ra bộ phim không phải như vậy. Điều khiến tôi ngạc nhiên và thích nhất ở Nerve là bộ phim đã lồng ghép hài hòa thể loại techno-thriller pha trộn với coming of age.

Mạng xã hội và môi trường thực

maxresdefault (1)

Câu chuyện của Nerve xoay quanh trò chơi Nerve. Nerve là hệ thống game mà người tham gia sẽ được chọn một trong hai vai trò: hoặc là người chơi, hoặc là người xem. Người chơi sẽ thực hiện những nhiệm vụ nguy hiểm do người xem đặt ra, mỗi nhiệm vụ đều gắn với mức tiền thưởng nếu họ hoàn thành, nhiệm vụ càng nguy hiểm thì tiền thưởng càng cao; trong khi đó, người xem sẽ là người phải đóng một khoản phí để được theo dõi họ. Người chơi phải quay lại toàn bộ quá trình thực hiện nhiệm vụ bằng điện thoại cá nhân. Phương thức chơi của Nerve đã được nhiều người so sánh là tương tự như trò Pokémon Go đang tạo cơn sốt thời gian vừa qua. Cả hai đều là game online có sự tương tác giữa người tham gia như mạng xã hội và trò chơi được thực hiện ở môi trường thực. Ta thấy có hai từ khóa chính ở đây là: mạng xã hội, môi trường thực. Điều này khiến cho Nerve có rất nhiều chất liệu để khai thác, nhiều phương án thị giác để lựa chọn. Xem Nerve, ta có thể thấy những con số chỉ lượt view như Youtube, những trái tim bay phấp phới như Instagram, Tumblr, những kiểu bình luận quen thuộc thường thấy trên mạng xã hội; đồng thời, ta cũng có thể thấy những đoạn phim quay bằng điện thoại mang chút màu sắc như phim tài liệu. Khi nhìn những thước phim quay bằng điện thoại của các nhân vật trong phim, tôi nhớ đến Chronicle (2012). Các nhân vật trong Chronicle tự quay nhau bằng handycam và cả bộ phim hầu như sử dụng chính những đoạn handycam ấy để dẫn dắt câu chuyện. Điều đó khiến cho Chronicle mang màu sắc semi-documentary thú vị. Tuy vậy, việc nhìn những hình ảnh rung lắc dữ dội từ handycam khi nhân vật di chuyển sẽ khiến khán giả dễ mệt mỏi và phải mất rất nhiều sức tập trung theo dõi bộ phim. Tôi nhận thấy, câu chuyện của Nerve cũng có thể hoàn toàn được kể lại bằng hình ảnh thu từ điện thoại di động của các nhân vật; khi đó, bộ phim có thể mang phong cách semi-documentary như Chronicle. Nhưng Henry Joost và Ariel Schulman đã không chọn phương án này dù trước đây, hai người cũng từng làm Catfish – một phim tài liệu về tình yêu thông qua mạng xã hội. Khi tôi tự đặt câu hỏi cho bản thân mình về điều này, tôi đồng thời cũng đã tìm được câu trả lời. Tuy những nhân vật của cả hai phim đều sử dụng máy quay cá nhân rất nhiều nhưng ở Chronicle – câu chuyện có sự riêng tư nhất định giữa những người bạn với nhau; trong khi đó, Nerve có thêm yếu tố mạng xã hội, nhấn mạnh sự tương tác giữa người xem và người chơi. Vì vậy, nếu Nerve sử dụng chủ yếu những đoạn phim quay từ điện thoại của nhân vật thì hiệu ứng thị giác chỉ mới đáp ứng được cho thành tố “môi trường thực” và có thể sẽ khó đáp ứng được thành tố “mạng xã hội”. Tuy vậy, tôi vẫn luôn hình dung rằng giả sử câu chuyện trong Nerve xảy ra thật, những người chơi trong phim có quay bằng điện thoại thật; khi đó, việc ghép lại nhiều đoạn phim cá nhân của họ có thể cũng sẽ tạo ra bộ phim thú vị theo hướng khác. Có lẽ, khi ấy Nerve sẽ biến thành semi-documentary về sự liều lĩnh và bản năng sinh tồn của con người nhiều hơn; chất lãng mạn, mơ mộng của tuổi vị thành niên sẽ phần nào mất đi.

Đối thoại mở rộng thời gian câu chuyện

Vee (Emma Roberts) and Ian (Dave Franco) in NERVE.

Nhân vật chính của Nerve là Vee – một cô gái nhút nhát, không ưa liều lĩnh nhưng lại bị kéo vào trò chơi đòi hỏi sự liều lĩnh như Nerve trong cơn tức giận vì cảm giác tự ti trước sự khiêu khích của cô bạn thân Sydney. Không giống như Katniss Everdeen bước vào đấu trường The Hunger Games với mục tiêu rất rõ, Vee chỉ tham gia Nerve vì phút nông nổi nhất thời. Do đó, Vee không có bất cứ mục tiêu nào cụ thể, điều cô muốn chỉ là thử liều lĩnh, tìm cho mình một hình ảnh mới. Đó cũng là điều bộ phim hứa hẹn sẽ mang đến cho người xem từ hồi một. Và quả thực, Nerve không chỉ đem lại giây phút căng thẳng bởi những thử thách đầy mạo hiểm, bộ phim còn cho người xem trải nghiệm chuyến hành trình khám phá bản thân đầy cảm xúc của cô gái tuổi mới lớn. Thông thường, dòng phim techno-thriller sẽ nhấn mạnh đến những chi tiết công nghệ viễn tưởng được sử dụng trong phim và những thiết bị kĩ thuật sẽ đa phần bắt nguồn từ quân đội. Nếu Nerve chỉ thuần nhuất là thể loại techno-thriller chính thống, tôi hình dung rằng Vee sẽ là cảnh sát điều tra về hoạt động ngầm của Nerve, cô tham gia Nerve với mục tiêu cụ thể là để tiếp cận, triệt phá hệ thống này. Nhưng Nerve lại là techno-thriller dành cho teen, là techno-thriller pha trộn với coming of age nên nội dung kịch bản được xử lí theo hướng khác. Điểm thành công của Nerve là vừa khắc họa chi tiết trò chơi liều lĩnh này, vừa đồng thời thể hiện được diễn biến tâm lí của Vee một cách thuyết phục. Thời gian toàn bộ câu chuyện chính diễn ra trong phim mà khán giả có thể theo dõi được chỉ diễn ra vỏn vẹn một ngày: từ buổi sáng Vee mở chiếc máy tính ra, nhìn hình J.P. – người cô yêu đơn phương cho đến buổi sáng ngày hôm sau, cô có lần “thực sự hẹn hò” đầu tiên với Ian – người cô yêu và cũng là người yêu cô. Vậy trong thời gian một ngày ngắn ngủi như thế, với biết bao biến động xảy ra, bộ phim chọn cách nào để khắc họa sâu tâm lí của Vee nhưng đồng thời không làm mất đi nhịp phim nhanh? Có hai phương án dễ dãi nhất mà người ta thường nghĩ đến trong trường hợp này: voice-over và flashback. Thế nhưng, voice-over thường chỉ thích hợp cho dòng phim tự sự, có mạch phim tương đối chậm; trong khi đó, sử dụng flashback chen ngang thời gian thực trong phim luôn là cách dễ khiến phim bị giảm nhịp độ. Cuối cùng, Nerve đã sử dụng phương án khắc họa nội tâm bằng cách bộc lộ quá khứ qua những đoạn đối thoại giữa các nhân vật. Điểm khó của phương án này là phải chọn được tình huống, thời điểm thích hợp để đoạn đối thoại có chứa thông tin biên kịch muốn tiết lộ cho người xem được diễn ra tự nhiên. Trong Nerve, cảnh làm được điều này mà tôi thích nhất là cảnh Ian dẫn Vee đi xăm. Trong quá trình xăm, câu chuyện về người anh trai đã mất của Vee được kể ra một cách tự nhiên. Câu chuyện ấy vừa khiến khán giả hiểu được lí do tại sao Vee rất ngại mạo hiểm; đồng thời, việc Vee kể câu chuyện này khi Ian cố gắng trò chuyện với cô, giúp cô quên cơn đau khi xăm cũng khiến cho không khí trong cảnh này trở nên rất thực: nó vừa hài hước vì những lời trêu đùa giữa Ian, Vee với người thợ xăm mình, vừa có chút sâu lắng khi chuyện buồn quá khứ được chia sẻ, vừa có chút phấn khích với giai điệu từ bài C.R.E.A.M của Wu Tang Clan. Câu chuyện về anh trai của Vee có lẽ là câu chuyện xảy ra ở điểm xa nhất trong quá khứ mà người xem biết được. Tương tự, câu chuyện về việc Sydney dễ dàng ngủ qua đêm ở nhà những chàng trai khác nhau cũng là một điểm lùi quá khứ khá xa so với thời điểm hiện tại trong phim. Câu chuyện này cũng được kể ra rất tự nhiên khi Vee và Sydney cãi nhau trong cao trào đầy kịch tính ở gần cuối hồi hai.

Công thức cho sự kết hợp

Nerve-Dave-Franco-Emma-Roberts (1)

Những năm gần đây, khi khán giả đã quá quen thuộc với công thức của một thể loại phim nhất định nào đó, các nhà làm phim thường có xu hướng pha trộn các thể loại với nhau để tạo ra món ăn hấp dẫn, khó đoán hơn dành cho khán giả. Nerve có thể là một ví dụ cho phim kết hợp thể loại thành công. Tuy nhiên, không phải sự kết hợp nào cũng được như thế. Gần đây nhất, bộ phim Tấm Cám: Chuyện chưa kể của Ngô Thanh Vân có thể tạm xem là một thử nghiệm thất bại khi kết hợp giữa thể loại thần thoại giả tưởng và hành động, thậm chí còn thêm chút liêu trai kiểu phim cổ trang TVB. Tất cả những thành tố khác nhau này khiến phim biến thành nồi lẩu thập cẩm khó nuốt bởi chúng không dung hòa được với nhau, chúng khiến bộ phim rời rạc và không có sự nhất quán trên tổng thể chung. Rõ ràng, việc kết hợp nhiều thể loại không phải là việc dễ. Sự kết hợp đó không chỉ đơn giản là phép cộng các thành tố thể loại rồi phân công nhiệm vụ cảnh này thuộc thể loại này, cảnh kia thuộc thể loại nọ. Đó là cách mà Tấm Cám: Chuyện chưa kể đã làm và cũng chính là nguyên nhân khiến khán giả bị kéo tuột ra khỏi bộ phim ở phân đoạn hành động cuối cùng bởi dường như nó không thuộc về bộ phim họ đã theo dõi từ đầu. Vì vậy, qua Nerve, tôi nhận ra rằng khi làm phim kết hợp nhiều thể loại, bài toán đặt ra nên là phương trình đẳng thức với nhiều dấu “=”. Nghĩa là, ta tìm những yếu tố trung gian nào đó để cân bằng giữa hai thể loại khác nhau, biến chúng trở thành nhau, hòa hợp thành một khung sườn duy nhất phục vụ cho câu chuyện. Có thể tạm đặt phương trình của Nerve là: techno-thriller + x = coming of age + y. Tôi nghĩ rằng ẩn số x, y mà Jeanne Ryan (tác giả tiểu thuyết gốc) hay Jessica Sharzer (biên kịch phim chuyển thể) đã tìm ra cho Nerve là: sự mơ hồ và sự khám phá. Bằng cách khám phá sự mơ hồ đằng sau hoạt động của Nerve như một nhân vật trong techno-thriller, Vee cũng đã dần khám phá những điều bản thân cô còn mơ hồ về chính mình và trưởng thành như một nhân vật trong coming of age. Techno-thriller và coming of age hầu như không tách rời nhau trong bất cứ phân cảnh nào của Nerve: mỗi phân cảnh đều có thể thuộc về techno-thriller, hoặc thuộc về coming of age. Chất techno-thriller giúp chất coming of age phát triển và ngược lại, chúng khiến Nerve trở thành một bản nhạc điện tử được phối bắt tai nhưng có chiều sâu. Có lẽ, đây là một bài học mà các nhà làm phim Việt Nam nên học hỏi khi muốn kết hợp các thể loại khác nhau trong một phim.

Điểm đánh giá: 7.5/10

N_D03_0951.CR2

Kodaki
3:41 pm
23.8.2016

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s