Tony Takitani


f1771-tony_takitani

Info

Đạo diễn: Ichikawa Jun
Sản xuất: Ishida Motoki
Kịch bản: Ichikawa Jun chuyển thể dựa trên truyện ngắn cùng tên của Murakami Haruki
Diễn viên: Issei Ogata, Miyazawa Rie
Âm nhạc: Sakamoto Ryuichi
Ngày phát hành: 11.8.2004
Thời lượng: 75 phút

* Bài viết có chứa nhiều yếu tố tiết lộ nội dung phim.  

Review

Tôi đã muốn xem Tony Takitani từ lâu. Từ dạo biết tin Haruki cho phép Trần Anh Hùng làm Rừng Na Uy thực ra là do trước đó, đã có một người làm phim rất tốt từ tác phẩm của ông khiến ông có lại niềm tin dành cho các đạo diễn muốn chuyển thể những tác phẩm của mình. Và đương nhiên bộ phim đó không gì khác chính là Tony Takitani. Nhờ có Tony Takitani mà quá trình Trần Anh Hùng xin phép chuyển thể Rừng Na Uy dễ thở hơn nhiều so với người tiền nhiệm là Ichikawa Jun. Bấy nhiêu đó thôi đủ để tôi muốn xem Tony Takitani rồi. Ngoài ra, tôi cũng vốn rất thích truyện ngắn này. Tôi đã dự định sẽ xem Tony Takitani trước khi xem Rừng Na Uy để làm cơ sở đánh giá xem ai là người chuyển thể tác phẩm của Haruki tốt hơn. Tôi down Tony Takitani từ khoảng năm 2010. Phim đã có trong máy suốt từ dạo đó mà không hiểu sao tôi lại không xem. Đúng là cái gì cũng cần có duyên. Kể cả như việc xem một bộ phim hay đọc một cuốn sách, việc ngỡ như bản thân có thể tự chủ được thì vẫn như có ngoại lực vô hình nào đó khiến mình hoàn toàn không thể chủ động. Để rồi hôm nay, một ngày đẹp trời tôi mới xem được Tony Takitani-một phim đã cách đây 10 năm.

Những cú dolly dài như một album ảnh

fbffc-1

Ngỡ ngàng là cảm giác chung của tôi về bộ phim. Tôi không thể ngờ là có một phim vừa đơn giản vừa kì lạ, vừa bình thường nhưng lại rất sáng tạo như vậy. Tôi bị cuốn hút ngay từ những khuôn hình đầu tiên của Tony Takitani. Mở đầu phim, tiếng nhạc vang lên chậm rãi với rất nhiều khoảng lặng, có những khoảng kéo dài lâu đến mức tôi tưởng bản nhạc đã kết thúc…nhưng không, sau vài giây ngắn ngủi như dài vô tận ấy, bản nhạc lại tiếp tục. Trên nền nhạc ấy là hình ảnh mặt đường quay cận cảnh. Bộ phim bắt đầu bằng một góc quay cận cảnh, ta chỉ biết được đó là một mặt đường, ta lại bị dẫn dụ theo khuôn hình đó lướt đi trên mặt đường ấy một quãng thời gian dài. Không có trung cảnh để khán giả hình dung sơ lược khung cảnh xung quanh như thế nào, những thông tin bên lề đã bị lược bỏ đi, chỉ có mặt đường và ta không biết đó là mặt đường của một con đường như thế nào, của một thành phố hay thị trấn như thế nào. Và máy quay rốt cuộc cũng lia đến cận cảnh đôi tay đang đắp đất để tạo một con thuyền. Đôi tay đó là của một cậu bé, có bước chân của một người đàn ông đi ngang qua, ông ta dừng lại đôi chút để nhìn vì tò mò rồi cũng đi, cậu bé vẫn không bận tậm-đó là những gì mà khuôn hình trung cảnh tiếp theo cho ta biết. Tôi rất thích cách mở đầu như thế, chỉ cần đơn giản vậy thôi cũng đã giúp người xem biết được hai thông tin cơ bản: một, Tony Takitani là một cậu bé đơn độc; hai, khi đã làm việc gì, cậu chìm đắm vào trong thế giới của mình bất chấp xung quanh như thế nào. Nhưng không chỉ là biết mà người xem còn có thể cảm nhận rõ ràng điều đó: chính góc quay mở đầu chỉ lia qua cận cảnh của mặt đường trong khoảng thời gian khá dài trên nền tiếng nhạc nhiều sự đứt quãng cho ta cảm nhận được sự cô độc, tập trung trong thế giới nội tại của Tony.

28f9a-2

Tôi đặc biệt thích cách Ichikawa Jun dẫn dắt câu chuyện bằng những khuôn hình dolly ngang qua hết căn phòng này đến căn phòng khác, khung cảnh này đến khung cảnh khác, thời điểm này đến thời điểm khác. Người sử dụng phương pháp dolly kiểu như thế không phải là ít nếu không muốn nói là quá nhiều. Những cảnh dolly mà Ichikawa đã sử dụng cũng có thể dễ dàng bắt gặp trong những phim khác nhưng chính cách ông sắp đặt liên tiếp những cảnh dolly với nhau mới là thứ đem lại cảm giác khác lạ với tôi. Trong giới hạn xem phim của mình, trước đây tôi chưa từng xem một phim nào lại có những cảnh dolly trải dài qua nhiều căn phòng, nhiều khung cảnh như thế. Tôi phục Ichikawa vì lúc ông sử dụng dolly như vậy, nó không chỉ có tác dụng chuyển cảnh mà còn khiến cho người xem có cảm giác như đang lùi ra xa, đang từ một điểm nhìn khách quan để theo dõi câu chuyện chứ không tham gia trực tiếp cùng nhân vật. Cách dolly qua từng căn phòng như thế cũng gần giống như hành động lật giở quyển album với những tấm hình ghi lại điểm mốc từng sự kiện trong cuộc đời của một con người vậy. Rõ ràng ngay từ đầu, Ichikawa cũng chọn cách kể chuyện tựa như đang kể tiểu sử nên phương pháp này hoàn toàn hợp lí.

Ngoài ra, phong cách tối giản cũng được thể hiện rất rõ trong Tony Takitani. Tôi thích những phân cảnh quay Eiko đi mua quần áo. Để diễn tả cơn nghiện trang phục của nàng, Ichikawa chẳng cần mất công quay nhiều góc độ cảnh đi mua đồ (vốn đã quá quen thuộc) không cần thiết. Ông chỉ tập trung quay bàn chân của nàng, bàn chân lần lượt thay đổi rất nhiều đôi giày. Nhịp điệu những bước chân đi. Và chỉ cần như vậy thôi là đủ hiểu nàng đã mua rất nhiều trang phục. Có mua nhiều trang phục mới thay nhiều giày như thế. Chỉ bằng việc cho người xem thấy nhiều đôi giày nàng đã thay đổi, ông khiến người xem cũng thấy được nàng đã mua rất nhiều trang phục khác nhau.

92d06-untitled

Đối thoại như độc thoại

dd46f-9

Lời thoại trong Tony Takitani được tiết chế một cách tối đa. Chủ yếu, Ichikawa sử dụng lời dẫn ngoài khung hình của một giọng nói xa lạ, một người kể chuyện khách quan đúng nghĩa, chẳng phải giọng nói của Tony, cũng chẳng phải giọng nói của bất cứ ai trong câu chuyện đó. Vậy mà tất cả lại được kết nối với nhau. Và cách mà Ichikawa chọn để kết nối cũng đặc biệt: ông cho nhân vật tự nói tiếp lời mà lẽ ra người kể chuyện phải nói. Ở một mặt nào đó, khi khởi điểm tôi đã có cảm giác Ichikawa cố tình làm cho Tony Takitani có vẻ giống như phim minh họa đơn giản: thứ nhất là việc ông để giọng nói ngoài khuôn hình dẫn truyện quá nhiều; thứ hai là ngay phần đầu kể về cuộc đời người cha, ông sử dụng những hình ảnh tĩnh ghép với lời kể truyện khiến ta dễ có cảm giác như đang xem file trình chiếu power point trong một buổi hội thảo nào đó. Tôi nghĩ thông thường, một đạo diễn sẽ rất sợ việc lặp lại các thủ pháp này quá nhiều vì có thể đem đến cho người xem cảm giác như đang xem power point minh họa hơn là xem phim. Lời dẫn truyện ngoài khung hình của một người kể chuyện khách quan thì những phim khác cũng sử dụng nhưng thông thường, chỉ xuất hiện trong phần giới thiệu ở đầu phim, kết phim hoặc một số cảnh phim là bước ngoặt, chuyển sang giai đoạn khác của cuộc đời nhân vật. Hiếm có ai dùng thủ pháp này như một yếu tố chính để dẫn dắt câu chuyện như Ichikawa. Tuy nhiên, Ichikawa thật tài tình ở chỗ ông sử dụng thủ pháp này nhiều nhưng không biến bộ phim của mình chỉ thành thứ phim minh họa cho văn chương của Haruki-một điều rất dễ xảy ra nếu ông áp dụng thủ pháp này. Ichikawa gần như vừa có thể khiến người ta cảm nhận được ông trân trọng những gì Haruki viết như thế nào khi với thủ pháp này, ông sử dụng được rất nhiều lời văn mà Haruki đã viết, đồng thời ông vẫn cho người xem thấy được cá tính điện ảnh của mình với những khuôn hình đặc trưng. Bằng chứng đầu tiên thể hiện cá tính chính là những khuôn hình dolly mà tôi đã đề cập ở trên. Ngoài ra, điều khiến tôi lưu ý nhiều nữa chính là cách ông quay thoại cách nhân vật. Thông thường ở những phim khác, dù quay đối thoại thế nào, chắc chắn cuối cùng người ta sẽ có góc quay chéo qua vai khi hai nhân vật ngồi đối diện trò chuyện với nhau, từ nửa vai người này sẽ thấy khuôn mặt người kia đang nói và cứ thế ngược lại. Những khuôn hình đầu tiên khi Tony trò chuyện với Eiko, ông không hề cho quay chéo qua vai như thế. Tôi chỉ nghĩ là chưa đến lúc. Suốt bộ phim dài 1 tiếng 15 phút như thế, chắc chắn thế nào cũng phải có lúc ông trở lại cách quay kinh điển này khi cho hai nhân vật đối thoại thôi. Và dự tưởng của tôi đã sai lầm. Tôi chờ mãi nhưng không thấy cách quay kinh điển đó. Toàn bộ phim, mỗi khi cho Tony và Eiko đối thoại, ông sẽ cho hai người ngồi bên nhau chứ không phải ngồi đối diện nhau. Khi đó, ông quay khuôn mặt từng người đang nói chứ không quay chéo qua vai, điển hình như lần hai người nói chuyện trong quán bar, Tony đề nghị Eiko giảm việc mua đồ lại; hoặc ông cho góc quay trung cảnh thấy cả hai đang ngồi nói chuyện như lần Tony cầu hôn với Eiko. Kể cả khi hai nhân vật ngồi đối diện nhau trong những lần hiếm hoi, ông cũng không dùng thủ pháp quay chéo vai mà khi ấy, ông chỉ quay khuôn mặt của một người đang nói, dường như tách biệt hẳn người kia, điển hình là phân cảnh khi Tony vừa cưới Eiko và dù hai người ngồi đối diện nhau trên bàn ăn nhưng Tony lại tự độc thoại tiếp lời người kể chuyện, hay khi Tony nhìn vợ mình đang lau xe. Như thế, những cảnh quay nói với ta điều gì? Qua việc cố tình không có góc quay chéo vai được sử dụng phổ biến khi hai người đang nói chuyện, Ichikawa đã thành công trong việc mang lại cho người xem cảm giác cô đơn mà mỗi nhân vật trong câu chuyện ấy phải đối diện, dường như họ luôn tự độc thoại một mình, cho dù có đang nói chuyện với một người nào đó, đang ở ngay bên cạnh người thân yêu của chính mình, họ vẫn có một khoảng trống riêng, một nỗi cô đơn riêng không thể thấu hiểu, không thể san sẻ với người kia.

Nghịch lí âm thanh

f584f-10

Sự tương tác giữa âm thanh và hình ảnh trong Tony Takitani cũng là một điều cần phải bàn. Tôi đặc biệt thích tiếng tích tắc của đồng hồ mà ông đã sử dụng trong hai phân cảnh phim. Tiếng đồng hồ ấy không quá rõ ràng, cũng không quá mờ nhạt. Tiếng đồng hồ vang lên thậm chí còn rất to, chậm rãi từng tiếng một nhưng người kĩ sư âm thanh đã làm cho tiếng đồng hồ ấy dường như bị mờ đục đi nên dù nghe rõ tiếng đồng hồ, người xem vẫn cảm nhận như tiếng đồng hồ ấy không có thực, nó như một thứ âm thanh vang lên từ không gian nào đó thật xa hay từ trong tâm thức của chính mỗi người. Lần đầu tiên, tiếng đồng hồ ấy xuất hiện là khi Tony cầu hôn với Eiko, anh nói cho nàng biết anh đã cô đơn như thế nào. Ở ghế đá buổi đêm nhìn thành phố đang chìm trong ánh đèn vàng ấy, giữa sự chờ đợi trong tĩnh lặng lời phản hồi của Eiko, nàng sẽ từ chối hay đồng ý, tiếng đồng hồ đó đã vang lên. Lần thứ hai, cũng là lần cuối cùng tiếng đồng hồ ấy xuất hiện là khi Eiko qua đời, Tony tưới nước cho chậu cây xương rồng mà bình thường nàng vẫn tưới, đặt tro cốt và di ảnh của nàng lên một chiếc tủ, ngồi trên ghế sofa đối diện với bức tường trắng trước mặt, với nỗi cô đơn một lần nữa lại quay trở về. Tiếng đồng hồ ấy là một sự lặp lại đồng thời cũng là sự kết thúc của một vòng tròn khép kín. Lần đầu tiên, tiếng đồng hồ ấy xuất hiện đánh dấu cột mốc cuộc đời của Tony: anh sẽ đón chào một cuộc đời mới-cuộc đời không còn cô đơn nữa. Lần thứ hai, tiếng đồng hồ ấy xuất hiện, cũng là một cột mốc trong đời Tony: anh lại tiếp tục cô đơn, nhưng không còn là sự cô đơn quay về khởi điểm như lúc đầu phim nữa.

55be2-11

Tôi vẫn nhớ Vương Gia Vệ nói rằng ông thích sự đối nghịch giữa âm thanh và hình ảnh. Nếu một cảnh quay với tiết độ chậm, ông sẽ dùng âm nhạc có tiết tấu nhanh. Nếu một cảnh quay với tiết độ nhanh, ông sẽ dùng âm nhạc có tiết tấu chậm. Đại loại thế. Ông nói sự đối nghịch giữa hình ảnh và âm thanh sẽ tạo ra hiệu ứng đặc biệt. Nó giống như sự mâu thuẫn trong tâm trạng của nhân vật vậy. Ở Tony Takitani, Ichikawa cũng đã làm điều tương tự như Vương Gia Vệ. Tôi rất thích phân cảnh khi Tony và Eiko ngồi nói chuyện với nhau ở quán bar, Tony đề nghị Eiko có thể nào cắt giảm bớt việc mua trang phục được không, Eiko bảo nàng không thể ngừng lại việc đó, cứ như nàng đã bị trúng độc, việc ấy tựa một cơn nghiện. Một khoảng trống nào đó đã len lỏi trong hai người, một dự cảm không lành và rồi hình ảnh cận cảnh chiếc đĩa không biết từ đâu đang dần rơi xuống đất vỡ tan được quay với tốc độ thật chậm. Chính vì, cảnh ấy được quay với tốc độ chậm, khi nhìn đĩa rơi, tôi đã chờ mong được nghe tiếng vỡ khi chiếc đĩa ấy chạm xuống đất tan tành. Đó là phản ứng thông thường. Ichikawa đã gieo vào lòng người xem dự tưởng đó để rồi khi chiếc đĩa kết thúc hành trình rơi của nó xuống mặt đất, hoàn toàn không có bất cứ thứ âm thanh nào vang vọng cả. Khuôn mặt của cả hai thẫn thờ rồi sau đó ngay lập tức, ông chuyển sang cảnh hai người nằm ngủ với nhau; trong khi Tony vuốt mái tóc của Eiko, nàng vẫn thao thức nhớ về lời hứa sẽ cố gắng giảm việc mua quần áo lại. Kể cả khi sang đến cảnh ấy, trong lòng tôi vẫn còn chút hụt hẫng vì đã không nghe được âm thanh của chiếc đĩa vỡ ở cảnh trước. Đến lúc này, tôi mới hoàn toàn thẩm thấu được những điều mà Vương Gia Vệ đã nói. Dù khi đọc những điều ấy, tôi hiểu nhưng từ lúc đó đến bây giờ, vẫn chưa có một cảnh phim nào khiến tôi cảm nhận được trọn vẹn hiệu quả của việc tạo ra sự đối nghịch giữa âm thanh và hình ảnh như thế. Thứ cần tiếng vang lại không vang tiếng và mọi việc vẫn bình lặng trôi qua. Thật là một cảm giác khác lạ. Trong Tony Takitani, thông qua thủ pháp này, không những Ichikawa đã diễn tả được sự mâu thuẫn trong nội tâm của hai nhân vật, đồng thời khi cho chiếc đĩa ấy rơi mà không phát ra tiếng, ông khiến cho người xem có cảm giác mơ hồ tự hỏi rằng liệu thực sự bên ngoài đã có một chiếc đĩa vỡ hay đó chỉ là hình ảnh trừu tượng diễn ra trong tâm trí đôi vợ chồng ấy báo hiệu mối quan hệ của họ sắp kết thúc. Chính việc không để cho tiếng đĩa rơi ấy phát ra âm thanh đã tước đi cảm giác hiện thực trong cảnh quay đó.

17393-1250678807_short

Cuối cùng, âm nhạc của Sakamoto Ryuichi trong phim thật tuyệt vời. Những bản nhạc ông sáng tác trong phim dường như cũng mang được tiết tấu mà Haruki truyền tải trong những truyện ngắn, tiểu thuyết của mình. Thứ nhạc jazz chậm rãi, mênh mang, nhiều khoảng trống và những biến tấu bất ngờ ấy… Bây giờ, tôi bắt đầu hối hận vì đã không xem Tony Takitani trước khi xem Rừng Na Uy. Nếu là như thế, tôi sẽ có những đánh giá rất khác về Rừng Na Uy của Trần Anh Hùng. Về mặt văn học, tôi vẫn thích Rừng Na Uy hơn Tony Takitani. Nhưng nếu xét về mặt điện ảnh, tôi nhận ra mình thích Tony Takitani hơn Rừng Na Uy rất nhiều. Khi xem xong phim, tôi mỉm cười vì cuối cùng đã hiểu tại sao Haruki tìm lại được niềm tin với những đạo diễn muốn chuyển thể tác phẩm của mình, với việc tác phẩm của ông hoàn toàn có thể diễn dịch lại bằng ngôn ngữ điện ảnh một cách đẹp đẽ. Tôi tin nếu như đạo diễn, nếu như từng thành phần trong đoàn làm phim đều nghiêm túc, say mê với công việc của mình, chắc chắn điện ảnh có thể chạm đến cái ngưỡng khiến cho người xem có được những rung động tinh tế, len lỏi vào từng ngóc ngách sâu nhất trong tâm hồn mỗi người như cách một tác phẩm văn học xuất sắc vẫn thường làm.

Kodaki
1:30 am
6.2.2014

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s